TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - LUẬN VỀ SAI LẦM CỦA CÁC SÁCH VỀ BỐC DỊCH
PHẦN III
PHỤ LỤC
Chương
1
LUẬN VỀ SAI LẦM CỦA CÁC SÁCH VỀ BỐC DỊCH
I. SAI LẦM CỦA TĂNG SAN BỐC DỊCH
Người đời khi có việc hồ nghi, chỉ có
bói mới quyết đoán được, tất chí thành mà cầu bói, Thần sẽ đem cát hung mà bảo
cho biết. Đem lý sinh khắc chế hoá, động tĩnh mà suy xét kỹ càng thì không quẻ
nào là không nghiệm. Há Lý văn Huy viết quyển Tăng San Bốc Dịch với chương đàu
viết rằng: “Sách này có 12 thiên bí pháp, riêng dạy người đời hoàn toàn không
biết lẽ sinh khắc của ngũ hành, cũng chẳng cần đọc các quẻ, chỉ cần hiểu bài là
có thể quyết đoán hung cát, biết công danh thành bại, biết của cải được mất, biết
bệnh tật sống hay chết, biết hoạ phúc để tránh hoặc tìm. Tất cả mọi sự đại khái
chảng cần học quẻ, đều biết quyết đoán. Đó là bí pháp khổ công vì đời của thấy
ta là Dã Hạc Lão Nhân, cả ngàn lượng vàng cũng chẳng cầu được.
Đọc bí pháp đó thấy bảo rằng: Cầu
danh lấy hào Quan làm Dụng thần, dùng hào Tử Tôn làm Kỵ thần, không cần đọc sách
Dịch, không cần xem sinh khắc, chế hoá, động tĩnh, hợp xung, chỉ cần trang quái,
hướng Thần cầu rằng: Tôi nếu có công danh , xin ban cho hào Quan trì Thế, nếu
xem một quẻ hào Quan không trì Thế thì xem nữa, xem nữa không được thì lại xem
nữa, hoặc ngày mai lại xem tiếp, nếu được Quan hào trì Thế , nhân đó mà biết sẽ
có công danh, nếu Tử Tôn trì Thế thì biết không có công danh; cầu tiền bạc thấy
hào Tài trì Thế tất có, thấy Huynh Đệ trì Thế tất không có; xem bệnh mà được Dụng
thần thì Thế tất sồng, Kỵ thần trì Thế tất chết. Xem mọi chuyện nếu thấy Dụng
thần trì Thế thì đoán cát, Kỵ thần trì Thế thì đoán hung; như nếu không thấy Dụng
thần trì Thế thì cứ xem mãi cho đến khi
nào có mới thôi.
Ta nghĩ Lý văn Huy lại lầm lẫn, sao
không dùng cầu Thánh dùng tiền định âm dương đoán hung cát, càng nhanh hơn phép
coi trên, thì giá trị còn hơn vạn lạng vàng sao. Tòm lại Lý văn Huy khinh nhờn
Dịch của Thánh nhân, mê hoặc hậu thế, cho nên cần bài bác.
II. SAI LẦM VỀ PHỤC THẦN CỦA DỊCH LÂM BỔ DI
Phàm
trong quẻ Dụng thần không xuất hiện, xét thấy có ở Biến hào bất tất phải tìm Phục thần, nếu Biến hào lại
không có, sau đó mới tìm Dụng thần, xem phục ở dưới hào nào. Xem Phục thần có được
đề bạt hay không để định hung cát, đó là phép luôn luôn ứng nghiệm. Ví như quẻ
Không vi Địa tại cung Khôn, đầy đủ Lục thân ở 6 hào, nếu Dụng thần bị Tuần không,
Nguyệt phá, hình xung khắc hại thì hào nào bị bệnh thì căn cứ vào đó định cát
hung. Còn ở 7 quẻ Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quyết, Nhu, Tỉ , nếu chánh quái và
biến quái không có Dụng thần thì đem Dụng thần trong quẻ Khôn đến phục
ở dưới hào nào đó của quẻ, phép ngày ngàn xưa không hề thay đổi. Há như
sách Dịch Lâm Bổ Di của Trương Tinh Nguyên đã có những câu tổng đoán: “Phi Phục
giao hoán tại lưỡng nghi, tức âm phục dưới dương, dương phục dưới âm, Càn Khôn đổi
qua lại, Chấn Tốn tìm nhau, Cấn Đoài kéo nhau, Khảm Li giữ nhau “.
Nếu theo thẽ sẽ đem Thiên Phong Cấu
làm Phục thần của Địa Lôi Phục, mà không biết quẻ Địa Lôi Phục thiếu hào Văn thư
(Phụ Mãu), phải lấy quẻ đầu của cung Khôn đến phục, tức lấy hào nhị Văn thư là
Tị hoả đến phục tại hào nhị Dần mộc của quẻ này, Dần mộc là Phi thần, Tị hoả là
Phục thần, đó là Phi lai sinh Phục. Như xem về văn thư, về bậc trưởng bối thường
nghiệm vào ngày Tị. Theo Trương Tinh Nguyên thì lấy quẻ Thiên Phong Cấu làm Phục
thần của quẻ Phục, lấy hào tứ Ngọ hoả đến phục tại hào tứ Sửu thổ, rồi cho rằng
Ngọ hoả phục dưới Sửu thổ là tiết khí tất hung, mà chẳng biết Tị hoả phục dưới
Trường Sinh[1] là cát.
Lại như quẻ Thiên Sơn Độn khuyết hào Tử Tôn, tất lấy hào sơ của quẻ Càn là Tí
thuỷ Tử Tôn đến phục tại hào sơ Thìn thổ của quẻ Độn. Thuỷ có Mộ khố tại Thìn ấy
là nhập Mộ tại Phi hào[2] ,
xét có đề bạt[3] là cát,
không đề bạt là hung. Đấy là phép ngàn xưa không đổi. Thế mà Trương Tinh Nguyên
đem hào ngũ Quí Hợi thuỷ của quẻ Địa Trạch Lâm đến phục dưới hào ngũ Thân kim của
quẻ Độn, rồi bảo Dụng thần phục dưới Trường Sinh là cát[4]. Đó
là chỉ Giáp thành Ất, luận bậy về hung cát.
Lại bảo Dụng thàn trong quẻ nếu gặp
Tuần không, Nguyệt phá, hình xung khắc hại thì nên tìm Phục thần.Lại nói quẻ
Qui hồn đều lấy quẻ thứ tư của cung thuộc quẻ này làm phục. Theo thế thì hào sơ
Tí thuỷ Tử Tôn của quẻ Đại Hữu gặp Tuần không thì đem quẻ Thiên Địa Bỉ làm Phục
thần[5], mà
trong 6 hào của quẻ Bỉ không có hào Tử Tôn. Thế thì xuất hiện Tuần không là
hung sao, hay là trong quẻ phục không có Dụng thàn là chẳng cát chẳng hung sao
? Bác bỏ một hai điều sai lầm của Phục
thần để chỉ rõ cho kẻ hậu học.
III. SAI LẦM VỀ THAI, DƯỠNG, SUY, BỆNH
TRONG DỊCH LÂM BỔ DI
Phàm
xem quẻ, các hào thường gặp Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng,
Suy, Bênh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Trong quẻ chỉ chú trong Trường Sinh, Mộ,
Tuyệt. Còn như Mộc Dục, Quan Đới và 7 yếu tố khác thì lại phân thành hợp xung,
sinh khắc, phù củng, tiến thoái khác nhau. Như hào Thân Dậu kim có Mộc Dục tại
Ngọ, nếu Kim hoá thành Ngọ thì là hoá hồi đầu khắc, hoặc xem vào ngày Ngọ thì là
bị Nhật thần khắc; nếu Thân hoá Dậu thì
gọi là hoá Tiến thần, Dậu hoá Thân thì gọi là hoá Thoái thần; nếu Kim hoá Mùi
Tuất thổ thì gọi là hoá hồi đầu sinh; nếu Dậu hoá Mão thì gọi la Phản ngâm; Thân
hoá Thìn gọi là hoá hồi đầu sinh; Dậu hoá Thìn gọi là hoá sinh hợp. Thần cơ là ở
nơi sinh khắc, chế hoá, xung hợp. Đâu như Trương Tinh Nguyên lấy Thai, Dưỡng là
bán cát (nửa tốt) mà Suy, Bệnh là bán hung (nửa xấu). Nếu lấy Thai, Dưỡng là bán
cát , thì như Tị Ngọ hoả có Trường Sinh ở Dần, Thai ở Tí; Dần Mão mộc có Thai ở
Dậu; Tí Hợi thuỷ có Dưỡng ở Mùi, thế thì hoá Thai Dưỡng là bán cát hay là hoá hồi
đầu khắc không thể bán cát ? Như Kim hào là Dụng thần hoá Tuất thổ là hoá hồi đầu
sinh, như thế là toàn cát. Nếu theo Trương Tinh Nguyên thì Suy Bệnh là bán hung[6] .
Lại như Ngọ hoả hoá Mùi thổ[7] là
hoá hợp, xem quẻ mà muốn tán gặp thế tất bị cản trở, muốn thành mà được thế tất
thành. Bán cát bán hung là sai lầm, làm người sau ngộ nhận không ít, cần bác bỏ.
IV. SAI LẦM VỀ THẾ THÂN CỦA BỐC DỊCH TOÀN
THƯ
Bốc Dịch Toàn Thư dùng: “Tí Ngọ trì
Thế, Thân an ở hào sơ. Sửu Mùi trì Thế,Thân an ở hào nhị, Dần Thân trì Thế, Thân
an ở hào tam, Mão Dậu trì Thế, Thân an ở hào tứ; Thìn Tuất trì Thế, Thân an ở hào
ngũ, Tị Hợi trì Thế, Thân an ở hào lục” và chú rằng:” trì Thế chi thần thị Tí”
tức dùng hào sơ để an Thế Thân. Nếu Thế hào gặp Tuần không, Nguyệt phá, Nhật thần
hình xung, khắc hại thì không cần xem, nên xem ở hào Thân. lấy hào Thân để thay
cho hào Thế, nếu hào Thân cát thì bói cát, hào Thân hung thì nói hung.
Người đời nay lấy đó làm tông chỉ là
điều quá sai lầm, mà không biết điều quan trọng trong quẻ là sinh khắc, chế hoá,
Không phá, hình xung, động tĩnh. Như xem
hung cát cho mình, lấy Thế mà suy, lấy Thế là ta mà định hung cát. Nếu Thế gặp
hung, Thân hào gặp cát, thì theo hung của Thế hay cát của Thân ? Từ đó điều “Tí
Ngọ trì Thế, Thân ở hào sơ” là lầm lẫn quá sức.
V.LUẬN SAI LẦM CỦA SAO THIÊN Y
Phàm xem mời thầy dùng thuôc, lấy hào
Ứng làm thầy, lấy hào Tử Tôn làm thuốc. Đó là cái lý không đổi từ ngàn xưa. Các
thuật gia ngày nay không xét hào Ứng hữu dụng hay vô dụng , không xét động tĩnh,
vượng suy của hào Tử Tôn, mà lại xem có sao Thiên Y hay không, rồi bảo Thiên Y
hiện trong quẻ thì uống thuốc sẽ công hiệu, thấy thuốc trị được bệnh, sao Thiên
Y không hiện trong quẻ thì uống thuốc vô ích, thầy thuộc chẳng chửa được. Nếu
như Thiên Y không hiện trong quẻ mà hào Ứng lâm Tử Tôn lại phát động, hữu khí
khắc Quỷ sinh Thân, lại đoán thầy thuộc không rõ bệnh, uông thuốc không công hiệu,
làm mất diệu chỉ của Tiên thiên, huông gì thầy thuốc là người liên quan đến sống chết, liên quan đến nhân mệnh.
Cho nên phải bài bác.
VI. SAI LẦM VỀ LUẬN ĐOÁN BẢN MỆNH
Phàm
xem bệnh phải suy từ Dụng thần. Dụng thần là như cha xem bệnh cho con thì lấy hào
Tử Tôn làm Dụng thần chẳng hạn. Thuật gia ngày nay lại không xét hết lẽ sinh khắc
chế hoá mà luận hung cát, sống chết của
bản mệnh bệnh nhân.. Tức bảo rằng bản mệnh hiện trong quẻ thì đoán là sống , bản
mệnh không hiện trong quẻ thì đoán chết. Vả lại như Dụng thần bị tổn thương nhiều
mà bản mệnh hiện trong quẻ thì đoán Dụng thần chịu thương không cứu được tất chết,
hay là đoán bản mệnh hiện trong quẻ thì không chết. Kẻ hậu học không thể lấy bản
mệnh của bệnh nhân mà đoán hung cát vậy.
VII. SAI LẦM VỀ THẦN SÁT CỦA BỐC DỊCH TOÀN
THƯ
Ngày xưa Kinh Phòng[8] viết
sách Dịch, dùng Thần sát để đoán, như xuất hành kỵ gặp Vãng Vong, bệnh kỵ gặp các
sao Tang Xa, Mộc Dục, Khốc Thanh; Y được thì xem Thiên Y; cầu tài kỵ Kiếp Sát;
Kiện cáo kỵ Quan Phù. Số lương Tinh sát không thể kể hết được, mà khiến cho kẻ
hậu học lấy đó làm tông chỉ, không kể Ngũ hành sinh khắc chế hoá, một mwcj lấy
Thần Sát làm bằng. Đến đời Minh, tiên sinh Lưu Bá Ôn khi viết Thiên Kim Phú có
ghi :”Từ xưa Thần sát quá đa đoan, làm sao bằng một lẽ sinh khắc chế hoá được”. Đó là phép chính tông để luận đoán Dịch.
VIII. SAI LẦM VỀ QUÍ NHÂN VÀ LỘC MÃ
Người đời nay phần lớn đều lấy hào
Quí Nhân làm quan chức, dùng hào Lộc làm bổng lộc, dùng hào Mã làm người đến, đại
khái luận như vậy mà không biết Quí Nhân. Lộc Mã lâm Nguyên thần, Dụng thàn phải
đoán là cát. Như bói chung than mà Bạch Hổ lâm Quan hào trì Thế , được Quí Nhân
lâm tại đấy, thì phải đoán nhờ võ lực mà được công danh. Nếu như không có Quí
Nhân lâm ở đó thì đoán bệnh hoạn ghê gớm. Nếu Quí Nhân lâm Kỵ thần, phát động
khắc hạithì không thể cho Quí Nhân là cát. Như Quí Nhân lâm Quan Quỷ trì Thế,
không thể xem hào Quan Quỷ là hoạ hoạn để đoán hung. Vả lại như xem hành nhân,
nên xét Dụng thần. Nếu Dụng thần lâm Dịch mã động, ngày về có thế định được, nếu
Dịch mã động mà Dụng thần thụ thương , không thể lấy Dịch mã để đoán định ngày
về,
Phàm xem bổng lộc phải lấy Tài hào làm
Dụng thần mới đúng. Nếu bỏ hung cát của hào Tài mà chỉ dùng hào Lộc làm bổng lộccũng
lầm lẫn. Lộc là thần sung túc, Mã là sao biến động, Quí nhân chẳng qua là thân
phan biệt giữa thanh cao và hạ tiện. Ba sao này lâm cát thần là tốt, lâm hung
thàn là hung. Học giả không thể đại khái để suy đoán.
IX. SAI LẦM VỀ HÀO ỨNG LÀ NGƯỜI KHÁC CỦA
DỊCH LÂM BỔ DI
Phàm xem quan hệ với người thường,
phải dùng hào Ứng làm người đó, lấy Ứngs hào làmDụng thần. Nếu anh em khác họ
hoặc bạn của cha chú, bạn của con cháu, tất phải phân biệt xưng hô lớn nhỏ để lấy
Dụng thần. không thể khái quát bảo ta xem cho người khác thì lấy Ứng hào làm Dụng
thần.
Trương Tinh Nguyên bất luận bạn của
cha, bạn của con đều lấy hào Ứng làm Dụng thần, thâm chí đến nô bộc, tì thiếp,
anh em, cha mẹ, chú bác, láng giềng đều nói chung là ta thay thế xem cho người đều
lấy hào Ứngs làm Dụng thần. Nay cứ theo Trương Tinh Nguyên viết ở “Thê
thiếp Nô bộc Khứ lưu chương “:
Đại bốc tha nhân khán Ứng hào,
Nhược lâm Nguyệt phá tối nan đào.
Ngộ xung ngộ khắc thân nan cứu,
Phùng vượng phùng sinh bệnh tất tiêu.
Sinh Ứng Nguyên thần nghi phát động,
Khắc tha kỵ tượng phạ giao trùng
Quái thân hữu khí hoàn tu cát,
Ứng vị phùng quan hoạ tất chiêu.
(Thay bói cho người xem Ứng hào,
Nếu lâm Nguyệt phá khó tránh thoát,
Gặp xung gặp khắc khó cứu được,
Gặp vượng gặp sinh bệnh tất tiêu.
Nguyên thần sinh Ứng nên phát động,
Kỵ thần khắc Ứng sợ giao trùng,
Nếu Quái thân hữu khí thì còn tốt.
Ứng ở hào Quan tất rước hoạ)
Lại ở Đấu ẩu tranh cạnh chương có câu :” Lấy Thế ứng
làm chủ, sinh khắc làm chỗ tựa “. Nếu như
con cháu cùng người ẩu đả tranh cạnh, e rằng còn thiếu cho nên lại thêm rằng: Há
không thể không xem sinh khắc của hào Tử Tôn. Rốt cục thì lấy Thế hào làm chủ mà
sinh khắc Thế Ứng làm chỗ tựa sao ?
Lại ở “Từ tụng chương” có câu: “ Lấy hào Quan làm
chủ, Phụ hào làm nơi tựa”. Đơn từ tố tụng
đưa đến công đình nên xem hào Quan , Phụ Mẫu động. Nếu hai hào Quan và Phụ động
khắc ta thì lấy hai hào Quan và Phụ động mà nói có chủ có nơi tựa là cát , hay
là nói khắc hại ta là hung ?
Thuật gia ngày nay gặp trường hợp
xem thay, thì bất luận tôn ti đều lấy hào Ứng làm Dụng thần , phàm gặp kiện tụng
chỉ dùng hào Quan, bất luận Dụng thần sinh khắc chế hoá thế nào, nên ta không
thể không bài bác được.
X. SAI LẦM VỀ TUẦN KHÔNG,NGUYỆT PHÁ CỦA
DỊCH LÂM BỔ DI
Phàm trong quẻ hào Nguyệt phá phát động
vượng tướng, hoặc được động hào sinh hợp, Nhật thần sinh hợp, hoặc hoá hồi đầu
sinh hợp, chẳng qua trong tháng xem không thể biết hung hay cát, nhưng hết tháng
đến ngày trị hoặc hợp [9] cũng
có thể cát, có thể hungởpTương Tinh Nguyên bảo Nguyệt phá không thể giải cứu, đại
khái là đoán hung.
Phàm trong quẻ hào Tuần không, hoặc
vương tướng an tĩnh, phục mà hưu tù phát
động, Nhật thần sinh hợp mà xung, hoặc biến Tuần không, hoặc phục mà được đề bạt,
thường thử thấy ứng nghiệm vào xuất Tuần. Không như Trương Tinh Nguyên nói hào
gặp Tuần không giống như không có hào này trong quẻ. Duy Nguyệt kiến lâm ở đấy,
tất bảo Nguyệt kiến không làm Tuần không hoặc là bảo Nhật thần không bị Nguyệt
phá[10] .
khiến làm kẻ hậu học thấy bị Nguyệt phá cho là không thể cứu, gặp Tuần Không thì
xem như không có hào này.
Lại bảo Nguyệt kiến không làm Tuần
không, chú thích rằng: gồm toàn Không và bán Không. Phàm ngày dương (xem) gặp hào
dương, ngày âm gặp hào âm đều là toàn Không; ngày dương gặp hào âm, ngày âm gặp
hào dương đều là bán Không. Thử hỏi như người ta xem bệnh gặp toàn Không thì biết
tất chết, nếu gặp bán Không thì nửa chết nửa sống sao ? Lầm lẫn đến như thế không
thể không bài bác.
XI. LUẬN VỀ HỖ QUÁI
Bậc đại Thánh ngày xưa dùng cỏ thi để
diễn thành quẻ, phân thành Thể tượng, Dụng tượng và Hỗ tượng, Hào từ để định
hung cát. Thể tượng là ta, Dụng tượng là việc. Trong quẻ gồm 3 hào nội quái, 3
hào ngoại quái. Nơi Thế đóng là Thể, nơi
Ứng toạ là Dụng. Như quẻ Thiên Địa Bỉ , Thế ở hào tam của nội quái, ứng ở hào lục
của ngoại quái, tức nội quái Khôn là Thể tượng, ngoại quái Càn là Dụng tượng. Nội
quái thuộc Thổ, Ngoại quái thuộc Kim, ấy là Thể đi sinh Dụng tất không tốt.
Lại xem Hỗ quái. Phép lấy Hỗ quái cũng dùng quẻ Bỉ làm thí dụ.
Trừ hào dương thượng lục và hào sơ âm, lấy từ hào nhì lên đến hào tứ gồm âm, âm, dương làm nội quái của Hỗ quái tức
quẻ Cấn, rồi lấy từ hào tam đến hào ngũ gồm âm, dương, dương làm ngoại quái của
Hỗ quái tức quẻ Tốn. Cấn thuộc Thổ, Tốn thuộc Mộc. Mộc là Thê Tài của quẻ Bỉ
thuộc cung Càn. Như xem về thê tài được
thế này là Dụng thắc Thể tất tốt.
Về hào từ, hào đơn thuộc dương gọi là Cửu, hào sách[11]
thuộc âm gọi là Lục. Như quẻ Càn hào sơ, có lời Dịch: “Sơ cửu : Tiềm long vật dụng”.
Lại như quẻ Bỉ hào sơ, lời dịch: “Sơ lục: Bạt mao nhứ dĩ kỳ vựng, trinh cát hanh”
Hào tứ của quẻ Bỉ có lời Dịch:” Cửu tứ: Hữu mệnh vô cữu, trù li chỉ”. Quỷ Cốc Tử
Tiên Sư vì dịch lý bao la, thâm sâu sợ người sau không thấu suốt được, dùng đồng
tiền bói thay cỏ thi, định Tài, Quan, Phụ, Huynh, Tử sinh khắc chế hoá, phân biệt
tứ thần Nguyên, Dụng, Cừu, Kỵ và phép hình xung, khắc hại, sinh phù, củng hợp, động
tĩnh, Không phá khiến người hậu học dễ biết phân biệt hung cát.
Về saudiễn Dịch bằng cỏ thi, không xét Hỗ thể, Dụng tượng, Hào từ thì không
linh. Nhưng lấy đồng tiền để bói mà dùng thì chẳng nghiệm. Người học nên biết bói bằng cỏ thi và đồng tiền, phép đoán khác
nhau.
XII. SAI LẦM VỀ CHUNG THÂN, ĐẠI TIỂU HẠN
CỦA DỊCH LÂM BỔ DI
Có người vì công danh mà bói suốt đời
có công danh hay không, có người vì nghèo hèn mà bói suốt đời có phú quí hay không,
có người vì không con cái mà bói suốt đời có con hay không, có người bói thọ yểu,
có người học nghề mà bói suốt đời có thể dựa vào nghề hay không, có người bói về
hành đạo mà bói suốt đời có thành tựu hay không, có người vì anh em, con cháu mà
bói suốt đời như thế nào ? Mỗi loại bói có mỗi loại Dụng thần. Trong các sách
chỉ có ở Tăng San Bốc Dịch là Dã Hạc luận phép chia ra mà bói chung thân là hết
sức ổn thoả.
Nói khái quát bói chung thân hung cát
nên xem sinh khắc chế hoá, hình xung khắc hợp, động tĩnh Không phá giữa Lục Thân
để hỏi thần, tất hung cát hiện ở hào, thành bại hiện ở quẻ.
Còn nhớ vào ngày Mậu Thìn, tháng Thìn
năm Mậu Thìn tự xem chung thân thành bại cho mình, được quẻ Lữ biến thành Cổ. Bấy
giờ tổ nghiệp hưng thịnh nghĩ rằng sẽ phú quí. Quẻ này Tử Tôn có Chu Tước trì
Thế, hào Quan nhập Mộ ở Nhật thần, hiển
nhiên công danh khỏi phải hỏi. Hào văn
thư phục ở hào Thế âm, hiển nhiên nhỏ tuổi mất mẹ, quẻ được Lục hợp , Tài Phúc được
hợp hiển nhiên tổ nghiệp giàu có. Đấy là việc trước, lúc đó còn cha già và kết
hôn chưa lâu. Về sau hưng phế, hình thương tự nhiên ứng nghiệm. Ai biết nămTan
Mùi cha mất mà lại sinh con. Năm này là năm hào Phụ nhập Mộ. Hào ngũ là trưởng
phòng trì ở Mùi thổ Tử Tôn quả có trưởng tử. Năm Giáp Tuất sinh con thứ. Ta bảo
với bạn rằng: “Lạ thay quẻ này hào Ngũ là Mùi, con trưởng tuổi dê, hào tứ hoá
thành Tuất , con thứ tuổi chó, hào sơ là Thìn tất con út tuổi rồng”. Bạn nói:
“Thổ chủ số 5, ấy có 5 con” . Ta đáp:”
Chẳng phải, số của Thổ là 5, theo vượng suy mà tăng giảm, nay Tử Tôn hiện nhiều,
theo lẽ thì thấy 1 là có 1. Sau đến năm đinh Sứuinh được 1 con, bạn bảo: “Anh nói
đứa sau tuổi rồng, nay tuổi trâu, vì sao thế ?” Ta nói:” Tuy có đứa này, nhưng
không ở trong số, sợ khó nuôi mà thôi”. Quả năm sau chết yểu. Đến năm Canh Thìn
qủ sinh được con. Từ năm Giáp Tuất ta 26 tuổi , gia nghiệp phế dần, đến năm Kỷ
Mão đi xa. Tháng hai năm Nhâm Ngọ trở về, vợ đã mất rồi. Những năm kế tiếp khốn
đốn phải hành nghề bói toán.
Có người hỏi: “Vì sao năm 26 tuổi khởi trắc trở ?” “ Ta đáp:” Đến năm Giáp Tuất ứng
với Tài, năm đó gặp Tuần Không, Tài lâm Bạch Hổ hoá Nguyệt phá, năm Thế phùng
xung, ấy là hợp xứ phùng xung. Năm Mão xung Ứng là Tài, nên phu thê cách biệt,
vợ chết không gặp mặt. Hào Thê Tài bị năm Ngọ khắc , tháng Mão hào Thê Tài lại
bị Nguyệt kiến xung đến hành nghề bói. Chu Tước ở Thế , quẻ thuộc cung Li tượng
cho văn chương, thứ tử không thành, Bạch Hổ ở Tuất thổ Tử Tôn bị tam phá là năm,
tháng, ngày[12] . Đến năm
Giáp Thân mới được an ổn.
Từ quẻ này mà xem, Hoàng Kim Sách có
bảo:” Muốn hỏi chuyện thành gia, hiềm gặp quẻ Lục xung. Cần biết sáng nghiệp, mừng
được quẻ Lục hợp”. Ta trước thành sau bại là do đấy. Nếu theo Dịch Lâm Bổ Di,
khởi từ hào sơ, mỗi hào coi 5 năm là Đại hạn; khởi từ hào sơ, mỗi hào coi 1 năm
là tiểu hạn. Ta từ 21 đến 25 tuổi, đại hạn ở hào ngũ, gặp hào Mùi thổ Tử Tôn,
23 tuổi sao cha lại chết ? Từ 31 đến 35
tuổi đại hạn tại hào sơ lâm Thìn thổ Tử Tôn, 34 tuổi sao khắc vợ ? Đại hạn như thế thì Tiểu hạn cũng có thể biết.
Lại bảo Biên quái áp dụng sau 30 tuổi, vì sao lại đến năm 26 tuổi thì phá
gia. Từ 35 đến 40 tuổi đại hạn tại hào nhị Huynh Đệ có Câu Trần, sao lại được
an ổn ? Nếu dùng Hỗ quái thì nội Tốn là văn thư, ngoại Đoài kim Thê Tài, mà
trong quẻ Hỗ quái đã có văn thư lần Thê Tài cì sao song thân mất sớm, trung niên
chết vợ ? Nếu theo phép của Trương Tinh
Nguyên, chẳng qua chỉ mê hoặc người ta, baot quẻ chung thân phải suy đoán đại
tiểu hạn như thế, không phải là quẻ tầm thường, phải đền đáp nhiều, nhưng cuối
cùng hoạ phúc hung cát đều không chút ứng nghiệm.
Người sau nếu bói cần biết chung
thân hưng phế, đại cục sẽ hiện ở hình thương
jkhắc hại của quẻ, cơ duyên gặp thời hiện ở hào. Nếu năm này năm klhắc coi thế
thì các tháng chũng chiếu theo, mà trong các hào không ứng hiện cứ suy bậy thì
không chuẩn. Danh lợi, hoạ phúc, thọ yểu phần từng điều thì sẽ hiện rõ để thấy,
người học nên để tâm mà suy kỹ càng.
XIII.SAI LẦM VỀ GIA TRẠCH CỦA DỊCH LÂM BỔ DI
Đoán sai lầm về Gia Trạch chỉ có thuyết của
Dịch Lâm Bổ Di, tức như việc phân quẻ
vượng tướng, tử một. Như sau tiết Lập xuân quẻ Cấn vượng, quẻ Chấn tướng, quẻ
Tốn thai, quẻ Ly một, quẻ Khôn tử, quẻ Đoài tù, quẻ Càn hựu, quẻ Khảm phế. Sau
tiết Xuân phân, quẻ Chấn vượng, quẻ Tốn tướng... và bảo rằng: Phàm xem về Nhân
trạch lục sự, nội quái và ngoại quái đều
vượng tướng, không có hào Tài và Quan ở nội quái chủ hưng thịnh, nếu lâm tử tu hưu phế nếu có Tài Quan, Thanh Long, Thiên Hỉ
cũng chẳng phải điềm tốt. Thử hỏi nếu sau tiết Lập xuân bói được các quẻ Di, Tiểu Quá, Cổ, Tiệm, Hằng, Ích
đều vượng tướng tất đoán phú quí vô cùng. Nếu bói được các các quẻ Minh Di,
Lâm, Tỉ, Tụy cùng Sư thì đoán là bại
hoại mãi. Cứ thế mà luận, nào có lý sinh khắc chế hóa, mà dùng phép đi đường tắt
định cát hung hoạ phúc. Lầm lẫn này còn cho là tạm. Lầm lẫn quá lớn là dùng
Quan hào làm hào gia chủ, lại đem hào ngũ làm hào gia chủ nữa. Nếu Quan hào xấu
mà hào ngũ, tốt tất phân cát hay hung cho gia chủ ? Lại bảo rằng: Tử Tôn động tất
gia tăng của cải, đó là câu thuộc vào phép coi xưa. Tuy không lầm, nhưng dùng Quan
Quỷ làm gia chủ thì Tử Tôn không thể động, vì động rất khắc thương hào Quan
vậy. Nếu theo Trương Tịnh Nguyện luận, muốn tiến gia nghiệp thì lại khắc thương
cha mẹ sao. Lại bảo hào sơ là con cái, cùng là gà ngỗng, là giếng suối, là nền
nhà. Thử hỏi hào sơ gặp hung thì gà ngỗng, giếng suối, nền nhà hung sao? Há nhà mà gà ngỗng chết thì con cái tất chết sao, giếng tất hư sao, nền nhà tất phá sao ? Hào
nhị lại nói là thê thiếp, cùng mèo chó, bếp cùng nhà trên. Thử hỏi hào nhị gặp
hung thì thê thiếp, mèo chó, nhà đều hung sao? Há nhà chết mèo chó thì thê thiếp cũng chết sao, nhà chết thê thiếp
vì do bếp núc, nhà trên bị phá sao?. Đó
chỉ là sự sai lầm của hai hào này thôi, ngoài ra chẳng cần thuật tiếp nữa. Phàm
bói, mọi người đều phân biệt rõ ràng Dụng thần. Ở cuối sách có phân đoán gia trạch
của sáu hào, học giả nên xem rõ để khỏi nhầm lẫn.
XIV. SAI LẦM VỀ HÔN NHÂN GIÁ THÚ CỦA DỊCH
LÂM BỔ DI
Về hôn nhân giá thú chỉ có thuyết của Dịch Lâm Bổ Di là sai lầm, dùng nội ngoái quái và hào Thế Ứng làm chủ,
dùng âm dương và hai hào Tài Quan làm nơi
dựa. Phàm người nam xem hôn nhân thì dùng nội quái làm chồng, ngoại quái làm
vợ, lại dùng Thế làm chống, Ứng làm vợ. Người nữ xem lấy chồng, thì ngoại quái
là chồng, nội quái là vợ, Thế nào là vợ,
Ứng nào là chồng. Nói như thế khiến kẻ hậu học chẳng biết định ra sao. Giá như
nhà nam xem hôn nhân hoặc gặp ngoại quái hung mà Ứng hào lại tốt thì kết quả có
lấy vợ được hay không, vì hôn nhân này cũng tốt mà cũng chẳng tốt. Người đời
nay cứ theo đó, chẳng cần biết là cha mẹ, chú bác xem lấy chồng cho con, cho cháu
hoặc không cần biết anh em, cô cậu xem lấy
vợ cho cho em cho cháu, cứ đại khái mà lấy Thế Ứng để luận vợ chồng, Quan Quỷ, Thê
Tài làm vợ chồng mà không dùng lý sinh khắc chế hóa của Dụng thần để định cát hung
cho vợ chồng khiến làm mất diệu chỉ tiên thiên.
Phải biết phân biệt Thế Ứng, Tài Quan, mỗi yếu tố có cách dùng riêng. Thế
hào là nhà ta, Ứng hào là nhà người. Người nữ tự bói lấy chồng thì dùng hào Quan
làm chồng, hào Thế là mình. Quan Thế tương sinh, tương hợp, Quan dương Thế âm
là đắc địa. Người nam tự bói lấy vợ, thì Thê Tài là vợ, hào Thế là mình. Tài Thế
tương sinh, tương hợp, Tài âm Thế dương cũng đắc địa. Hoặc cha mẹ hay bậc
trưởng bối đi xem cho con cháu để chọn dâu thì dùng Tử tôn làm Dụng thần. Thế ở
Tử Tôn hoặc Tử Tôn tượng dương đều chỉ nhà trai của ta, Ứng ở Tử Tôn hoặc tượng
âm đều chỉ gia đình nhà gái. Nếu không xung khắc mà sinh hợp, tự nhiên kết hôn
được, vợ chồng hoà hợp. Nếu không sinh hợp mà xung khắc tự nhiên vợ chồng bất
hoà, hoặc hưu trù, chịu khắc thì tự nhiên không lâu dài.
Nếu cha coi hôn nhân cho con, hào Thế bị thương thì tự nhiên trái nghịch
mà hình cha chồng. Tài hào mà được sinh tự nhiên hiếu thuận mà ích mẹ chồng.
Hoặc xem cho em lấy vợ, em gái lấy chồng thì lấy hào Huynh Đệ làm dụng
thần.
Ta con nhớ ngày Mão tháng Ngọ, cha xem bói gả chồng cho con gái, bói được
quẻ Bỉ an tĩnh. Một người cầm đến hỏi: "Thế âm Ứng dương, Quan tinh vượng,
quẻ lại được lục hợp, Nhật thần trì Tài, Tài và Quan tương sinh, sáu hào đều an
tĩnh, thật là giai ngẫu phải không?
Ta đáp: "Cứ theo Trương Tịnh Nguyện luận thì giai ngẫu vậy. Tử tôn
phục ở Tuần không tất không con cái. Cứ theo ta đoán Tí thủy Tử Tôn phục tại
hào âm là Mùi thổ, chỉ sợ lệnh ái chẳng thọ". Người xem không đồng ý bỏ
đi, sau quả nhiên người con gái này thành hôn chẳng lâu thì bị bệnh chết.
Lại một người vào ngày Giáp Ngọ tháng Thân xem bói chọn vợ cho con được
quẻ Phục biến thành Phệ Hạp. Ta bảo "Ứng hào hợp thành Tử Tôn cục, sinh Thế
không những cưới thì nhà gái giàu có mà còn đuợc hưởng phúc hiếu thiện. Đến năm
Tị cưới xong quả hiếu thiện, hiền thục hết sức. Nếu theo Trương Tịnh Nguyện mà
bảo Quan là chồng thì Dần mộc là phu tinh bị Nguyệt phá, bị kim cục khắc, tất
khắc chồng. Sau cưới xong 20 năm, cha mẹ chồng còn sống, vợ chồng hạnh phúc,
không những nhiều con mà gần đây có cháu. Kẻ hậu học theo đó mà xem . chớ bỏ cát làm hung mà lầm lẫn về hôn phối vậy.
XV. SAI LẦM VỀ DÙNG LỤC HÀO ĐỂ XEM MỌI
CHUYỆN
Thiên Huyền Phú định lệ dùng Lục hào
để xem mọi chuyện. Như xưm quốc sự lấy hào ngũ làm vị của Thiên tử, xem gia trạch
lấy hào nhị làm nhà, hào ngũ làm mộ phần, làm hào ngũ làm vị trí khí tuyệt . Ba
điều này khá đúng lý nhưng cũng nên lấy sinh khắc chế hoá của Dụng thần để đoán.
Xem về mọi việc như Thiên thời, Sinh
sản, Hành nhân, Đồng ruộng, Mưu sự, Tật bệnh, Buôn bán, Kiện tụng, Đọ tặc, Ẩu đả,
Tơ tàm, Lục súc, Xuất hành, Quỉ thần.. đều chẳng lấy sinh khắc chế hoá của Dụng
thần để suy đoán để quyết định hung cát, làm mất huyền diệu của
lý tiên thiên. Tức như xem Thiên thời thì lấy hào lục làm mặt trời, lấy
hào ngũ làm mưa. Thử hỏi xem nắng mưa không hào Tử Tôn, hào Phụ Mẫu để suy đoán
mà dùng hào ngũ và lục thì làm sao quyết đoán ? Lại như lấy hào sơ làm sản phụ,
hào nhị làm thai nhi. Xem sản phụ không lấy dụng thần, thai nhi không lấy Tử Tôn
, mà lại dùng hào sơ, hào nhị thì làm sao quyết đoán ? Ngoài ra sai lầm đủ điều,
khó nói cho hết, mong kẻ hậu học xét kỹ cho.
[1] Hoả có Trường Sinh tại Dần.
[2] Hào Tí thuỷ đến phục tại Thìn
thổ, hào Tí gọi là Phục thần, hào Thìn là Phi thàn.
[3] tức được sinh hợp của biến hào,
của Nhật Nguyệt…
[4] Dịch Lâm Bổ Di dùng Càn Khôn,
Chấn Tốn, Cấn Đoài, Khảm Li trao đổi nhau, vì thế với quẻ Địa Lôi Phục thì dùng
quẻ Thiên Phong Quái, quẻ Thiên Sơn Độn
thì dùng quẻ Địa Trạch Lâm làm quẻ phục. Như quẻ Độn thiếu hào Thuỷ (Tử Tôn) thì
lấy hào Thuỷ của quẻ Lâm mà đến phục.Mà hảo Thuỷ của quẻ Lâm là hào ngũ Hợi thuỷ, nên đem hào này đến phục dưới
hào ngũ của quẻ Độn là Thân kim.
[5] Trong cung Càn quẻ Đại Hữu là
quẻ Qui hồn, quẻ Bỉ là quẻ thứ tư.
[6] Tị Ngọ hoả có Thai ở Tí thuỷ là khắc,
Dần Mão mộc có Thai ở Dậu kim là bị khắc là hung; Kim có Trường Sinh ở Tị,
Suy ở Tuất, hoá Tuất là hoá Suy, nhưng lại hoá hồi đầu sinh tất cát.
[7] Ngọ hoả hoá Mùi thổ là hoá
Suy.
[8] Người đời Hán, tự Quân Minh, vốn
họ Lý. giỏi về Dịch, học vớiTiêu Diên Thọ. Thọ từng nói: “Học được đạo của ta mà
quên cả thân chỉ có Kinh Phòng này”. Ông có viết Kinh thị Dịch truyện.
[9] Như hào Dần gặp Nguyệt phá thì
qua tháng đến ngày Dần, gọi là ngày trị (trị nhật), hoặc ngày Hợi là ngày hợp,
[10] Tức nếu hào là Nguyệt kiến lâm
Không, và hào là Nhật thần bị Nguyệt phá thì xem không có ảnh hưởng gì.
[11] Đơn là vạch liền, sách là
vạch đứt.
[12] tức bị niên phá, nguyệt phá,
nhật phá. Vì ngày, tháng và năm coi quẻ đều thuộc Thìn xung Tuất hào
Nhận xét
Đăng nhận xét