TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - C8. NIÊN THỜI

NIÊN THỜI
年時
(VIỆC TRONG NĂM)


1.陰晴寒暑天道之常
水旱兵災年時之變
欲決禍福於一年
須審吉凶於八卦
Âm tình hàn thử Thiên đạo chi thường
Thuỷ hạn binh tai niên thời chi biến.
Dục quyết hoạ phúc ư nhất niên
Tu thẩm cát hung ư bát quái.
Nắmg mưa lạnh nóng việc bình thường của Thiên đạo,
Lụt hạn binh đao là những biến cố trong năm
Muốn định hoạ phúc trong một năm
Cần xét cát hung nơi bát quái.
Niên thời là sự việc trong bốn mùa của một năm. Việc quốc gia, quan lại, thời tiết, nhân vật đều ở trong 6 hào của quẻ.

2.初觀萬物 莫居死
次察群黎喜在旺生之地
Sơ quan vạn vật, mạc cư Tử Tuyệt chi hương
Thứ sát quần lê, hỉ tại vượng sinh chi địa
Hào sơ để xem vạn vật, chớ trị ở nơi Tử Tuyệt,
Hào tiếp xét lê dân, mừng tại chỗ Vượng Sinh.
Vạn vật thuộc hào Sơ, ở Tài Phúc thì cát, lâm Quan Quỷ thì hung. Hào hai là vị trí của nhân dân, gặp Tử Tôn bốn mùa an lạc, gặp Quan Quỷ trong năm nhiều tai hoạ.

3.三言府縣官僚兄動則徵 科必追
四論九卿宰相冲身則巡察無私
Tam ngôn phủ huyện quan liêu, Huynh động tất chinh khoa tất truy
Tứ luận cửu khanh tể tướng, xung Thân tất tuần sát vô tư.
Hào tam nói về quan lại phủ huyện, nếu Huynh động thì truy thu thuế .
Hào tứ luận về Tể tướng và cửu khanh[1], nêu xung Thân thì việc tuần sát vô tư.
Hào tam đoán quan lại có trách nhiệm, sinh hợp Thế hào thì có lòng thương người mến vật. Nếu lâm Tử Tôn thì thanh liêm chính trực, lâm Quan Quỷ bất nhân tàn bạo, lâm Huynh Đệ phát động khắc Thế thì bức bách thu thuế.
Nếu xem cử khanh và tể tướng thì xét hào tứ, lâm Tử Tôn sinh hợp Thế Thân thì cai trị lo lắng cho dân, chính trực vô tư.


[1] Chỉ các hạng quan lớn. Tuỳ triều đại mà thay đổi, như triều Minh ở Trung Quốc gọi Thượng thư của lục Bộ, Đô ngự sử ở Đô Sát viện, Thông Chính Ty sứ, Đại Lý tự khanh là cửu khanh.


4.五為君上之爻
六為昊 天之位
Ngũ vi Quân thượng chi hào,
Lục vi hạo thiên chi vị.
Hào ngũ là vị của vua
Hào lục là vị của Trời.
Hào ngũ là vị trí của vua, không nên động khắc hào Thế, vì như thế thì năm đó chịu bóc lột của triều đình. Nếu lâm Tài Phúc sinh hợp hào Thế tất được ân của vua, hoá ra Phụ Mẫu thường có ân xá, lâm Không động tất có danh mà không thực. Hào lục là Trời, nếu lâm Không năm ấy tất nhiều việc quái dị, vì vốn Trời không có lý xuất Không, nên chủ sự biến đổi lạ thường.

5.應亦為天剋世則天心不順
世還為地逢空則人物多災[/indent]
Ứng diệc vi Thiên, khắc Thế tắc Thiên tâm bất thuận;
Thế hoàn vi Địa, phùng không tắc nhân vật đa tai
Ứng cũng là Trời, khắc Thế thì lòng Trời không thuận
Thế còn là Đất, gặp Không thì người vật nhiều tai ương.
Ứng hào lại là những quân bên ngoài Kinh, Thế hào lại là bản địa (chỉ vùng người xem đang ở)

6. 逢凶乘旺有溫州之大颶
Thái Tuế phùng hung thừa vượng, hữu Ôn châu chi đại cụ
Thái Tuế gặp hung mà vượng có gió lớn ở Ôn châu[1].
Thái Tuế là chủ tinh của một năm, duy gặp Tử Tôn, Thê Tài là cát, lâm những nơi khác đều bất lợi. Như lâm Huynh động thì năm đó nhiều gió, khắc Thế thì tai hoạ về gió bão.


[1] Tên phủ ở Triết Giang Trung quốc, đây dùng để chỉ miền đất đang ở. Dung từ Ôn châu để đối với Hán tẩm ở vế sau (câu 7).


7. 流年直鬼帶刑成漢寢之轟雷
Lưu niên trị Quỷ đới hình, thành Hán tẩm chi oanh lôi.
Lưu niên gặp Quan quỷ nên sấm sét trên đất Hán.
Thái Tuế lâm Quan Quỷ động , nhiều sấm sét tai hoạ. Sáu hào không có Quan, niên nguyệt không trị Quan , hoặc Quan suy tuyệt đều tốt.

8. 發動妻財旱若成湯之日
交重父母潦如堯帝之時
Phát động Thê Tài, hạn nhược Thành Thang chi nhật
Giao trùng Phụ Mẫu, lạo như Nghiêu đế chi thì.
Thê Tài phát động thì trời hạn như thời vua Thành Thang
Phụ Mẫu động thì lụt như thời vua Nghiêu.
Thê Tài lâm Thái Tuế phát động mà hào Phụ suy nhược, tất chủ khô hạn. Nêu Phụ trì Thái Tuế phát động, Tử Tôn suy nhược chủ nước lớn.

9. 猛烈火官回祿興災於照應
Mãnh liệt hoả Quan hồi lộc hưng tai ư chiếu ứng
(Quan Quỷ thuộc Hoả vượng động thì ứng việc có hoả tai)
Quan Quỷ thuộc Hoả phát động chủ có hoả tai.
Hoả Quỷ phát động chủ có hoả tai, nếu với hào Thế vô can mà trở ngại, với hào Ứng thì hàng xóm bị hoả tai. Dùng nội ngoại quái mà luận xa hay gần.

10. 汪洋水鬼玄冥作禍於江淮
Uông dương thuỷ Quỷ, Huyền Minh tác hoạ ư giang hoài
Thuỷ Quỷ thì nước mênh mông, Huyền Minh[1] gây hoạ nơi sông lớn.
Thuỷ Quỷ phát động chủ có thuỷ tai, tại ngoại quái động thì ngập chìm ở nơi khác, ở nội quái động thì nước sông tràn ngập ở nơi gần, nếu không khắc Thế thì tuy ngập cũng vô sự.

11. 尤怕屬金四海干戈如鼎沸
Vưu phạ thuộc kim, tứ hải can qua giai đỉnh phất
Càng sợ nếu thuộc kim, bốn biển chiến tranh sùng sục.
Kim Quỷ phát động sợ có binh đao, xung khắc Ứng hào, sinh hợp với hào ngũthì triều đình chinh phạt, như ở ngoại quái lại thuộc cung khác, khắc hào ngũ hoặc khắc Thái Tuếthì ở ngoài xâm phạm đất nước. Hoặc lưỡng Quỷ đều động thì chẳng phải một nơi làm loạn, hoặc hoá hồi đầu khắc, nhưng Nhật thần Nguyệt kiến động hào khắc chế thì tuy có phản loạn mà chẳng hại. Nếu Quan hưu tù động thì là giặc cứơp.

12. 更嫌土千門疫厲苦 符同
Cánh hiềm trị Thổ, thiên môn dịch lệ khổ phù đồng
Lại hiềm ở Thổ, khổ vì tai hoạ ôn dịch khắp ngàn nhà.
Thổ Quỷ phát động lại lâm Bạch Hổ đều chủ ôn dịch, nếu khắc Thế thì người mắc bệnh chết nhiều, có chế thì chẳng hại gì.

13. 逢朱雀而化福爻財動則旱蝗 相繼
Phùng Chu Tước nhi hoá Phúc hào, Tài động tắc hạn hoàng tương kế
Gặp Chu Tước mà hoá Phúc Đức, Tài động thì hạn và sâu bọ kế tiếp nhau.
(Quỷ lâm Chu Tước động,hình khắc Thế Thân chủ có tai hoạ sâu bọ, vì vốn Chu Tước (chim sẻ đỏ) có thể bay được.




[1] tên thuỷ thần. 
14. 遇勾陳而加世位足興則饑饉相仍
Ngộ Câu Trần nhi gia Thế vị, túc hưng tắc cơ cận tương nhưng
Gặp Câu Trần lại ở Thế hào mà hưng động thì đói kém vô cùng.
Câu Trần chuyên chỉ điền thổ, Quan Quỷ gặp phải thì không phải là năm đầy đủ. Trì Thế, khắc Thế là năm thu hoạch kém. Tài hoá Huynh mà Quỷ cũng động tất đói kém vô cùng.

15. 莽興盜起由玄武之當官
Mãng hưng đạo khởi do Huyền Vũ chi đương Quan
Giặc cướp nổi lên do Huyền Vũ ở cung Quan.
Quan Quỷ có Huyền Vũ động khắc hào Thế, năm đó tất nhiều giặc cướp. Nếu thuộc Kim xung khắc Tuế quân hoặc hào Ngũ, động chuyện binh đao rối loạn khắp nơi để chống đối với triều đình.

16. 災沴異多因螣蛇之御世
Tai lệ dị đa nhân Đằng Xà chi ngự Thế
Nhiều tai ương nhân vì Đằng Xà ở Thế.
Đằng Xà là thần quái dị, ở hào Lục động tuy không phải Quan Quỷ cũng chủ có biến đổi lạ thường. Nếu Quan Quỷ ở hào lục động tuy không có Đằng Xà cũng chủ biến đổi lạ lùng.

17, 若在乾宮天鼓兩鳴於元末
Nhược tại Càn cung, thiên cổ lưỡng minh ư Nguyên mạt
Nếu ở cung Càn, trống trời trổi lên cuối triều Nguyên.
Đằng Xà ở Quan hào động, nếu ở cung Càn , chủ có trống trời nổi lên lạ thường. Dùng ngũ hành để phân biệt, như hào Kim là Tử Tôn hoặc hoá thành quẻ đoài thì có lạ tường về tinh tú. Ngoài ra cứ phỏng theo như thế.

18. 當震卦雷霆獨異於國初
Như đương Chấn quái, lôi đình độc dị ư quốc sơ
Nếu ở quẻ Chấn, sấm sét lạ thường buổi dựng nước.
Đằng Xà là Quan Quỷ động thuộc cung Chấn, thì có sấm sét lạ thường. Nếu vào mùa hè thu không có mây mà sấm sét. Quẻ Chấn là rồng, nếu ở Thìn hoặc hoá Thìn chủ có rồng xuất hiện.

19. 艮主山崩臨應則宋都有五石之隕
Cấn chủ sơn băng, lâm Ứng tắc Tống đô hữu ngũ thạch chi vẫn
Cấn chủ núi đổ, lâm Ứng tất như kinh đô nhà Tống có vẫn thạch rơi xuống.
Đằng Xà là Quan Quỷ ở cung Cấn động, chủ có núi sụp đổ, như vào niên hiệu Nguyên Thống[1] núi sập thành bình địa chẳng hạn.

[1] Niên hiệu vào đời Thuận Đế nhà Nguyên.

20. 坤為地震帶刑則懷仁有二所之崩
Khôn vi địa chấn, đới hình tắc Hoài Nhân hữu nhị sở chi băng
Khôn là địa chấn, bị hình tất Hoài Nhân[2] có hai núi bị sập.
Đằng Xà Quỷ thuộc cung Khôn mà động chủ có địa chấn, thuộc Kim thì có tiếng vang, bị Hình thì đất nức. Khôn là trâu, Quỷ lâm Sửu động tất trâu lạ thường. Hai quẻ Càn Khôn là việc lạ của người không phải của vật, như đàn bà mọc râu, đàn ông mang thai, cuối đời Nguyên có những việc lạ thường này.

[2] Hoài Nhânlà tên phủ thuộc tỉnh Sơn Tây Trung Quốc.


21. 坎化父爻雨血雨毛兼雨土
Khảm hoá Phụ hào, vũ huyết vũ mao kiêm vũ thổ
Khảm hoá Phụ thì mưa máu, mưa lông cùng mưa đất.
Quan Quỷ mang Đằng Xà thuộc quẻ Khảm động hoá Phụ đều đoán mưa. Mưa máu, mưa lông cùng mưa đất đều là chuyện lạ cuỗi đời Nguyên.

22. 巽連兄弟風紅風黑及風旋
Tốn liên Huynh Đệ, phong hồng, phong hắc cập phong toàn
Tốn dính với Huynh Đệ thì gió đỏ, gió đen cùng gió xoáy.
Quan quỷ có Đằng Xà thuộc cung Tốn, động hoá Huynh Đệ chủ có gió lạ thường. Thời Nguyên Đế có gió đen. Nếu không hoá Huynh chớ đoán là gió, mà là lạ thường về thảo mộc cầm thú. Thời Xuân thu, chim nghịch bay lui; trong kho đời Đường tiền hoá thành bướm.

23. 日生黑子宋恭驚離象之反常
Nhật sinh hắc tử, Tống Cung kinh Li tượng chi phản thường
Đời Cung Đế đời Tống, mặt trời sinh vết đen, lạ thường thuộc cung Li.
Đằng Xà Quan Quỷ thuộc cung Ly động, chủ có lạ thường về mặt trời. Như thời Cung Đế nhà Tống mặt trời sinh vết đen. Nếu lâm Ngọ thì có lửa lạ thường. Như vào niên hiệu Đại Đức lửa từ trên không xuống thiêu cháy lúa má.

24. 沼起白龍唐玄遭兌金之變異
Chiểu khởi bạch long, Đường Huyền tao Đoài kim chi biến dị
Gặp cung Đoài thuộc Kim thì biến đổi lạ lùng như thời Huyền Tông nhà Đường có rồng trắng từ ao nổi lên.
Đoài là đầm, chủ giếng, ao. Nếu Đằng Xà ở Quỷ thuộc cung Đoài động thì như thời Đường Huyền Tông có rồng trắng trong ao bay lên không trung; trong giếng sau điện của thái tử của vua Thuận Đế nhà Nguyên, trong giếng mới có rồng xuất hiện, phát ánh sáng biến ảo khôn lường, cung nhân nhìn thấy chẳng ai không khiếp sợ.

25. 發動空亡乃驗天書之詐
Phát động Không vong nãi nghiệm thiên thư chi trá
Phát động mà lâm Không là như chuyện giả trá của thiên thư.
Đằng Xà ở trên đã phát động mà không lâm Không, hoá Không thì quái dị có thể có, nhưng nếu gặp xung gặp Không thì giả trá, nói không thực, như chuyện đời Tống Chân Tông có thiên thư từ trên trời giáng xuống.

26. 居臨卦定成黑眚之
Cư lâm nội quái định thành hắc sảnh chi yêu
Ở nội quái thì thành yêu nghiệt màu đen.
Đằng Xà Quỷ tại nội quái của bản cung, yêu quái hiện trong nhà, như thời Tống Chân Tông có yêu quái đen hiện ở góc sân,
27. 欲知天變於何方須究地支而分野
Dục tri thiên biến ư hà phương, tu cứu địa chi nhi phân dã
Muốn biết trời biến đổi ở phương nào, phải xem Địa chi mà phân vùng.
Phàm gặp tượng biến đổi lạ thường, cần xem hiện ở phương nào, để biết phương nào bị hại mà định. Như Tí là vùngTề, Sửu là vùng Ngô, Dần là vùng Yên…

28. 身持福德其年必獲休祥
Thân trì Phúc Đức, kỳ niên tất hoạch hưu tường
Thân ở Phúc Đức thì năm đó tất được tốt lành.
Tử Tôn là Phúc Đức sinh Tài khắc Quỷ, nếu vượng động thì năm được mùa, nước yên dân vui, thái bình quan thanh liêm, vạn vật hanh thông.

29. 世受刑傷此多遭驚
Thế thụ hình thương, thử tuế đa tao kinh quái
Thế chịu hình thương, năm đó gặp nhiều quái sợ.
Thế là hào chủ của niên thời, trăm họ, cày cấy, ngũ cốc, lục súc đều dựa vào nơi đó. Nếu Thế lâm Tài Phúc vượng tướng thì vừa lòng. Nếu bị Tuế, Nguyệt, Nhật cùng động hào khắc thì nhiều kinh hiểm.

30. 年豐稔財福生旺而無
Niên phong tuế nẫm, Tài Phúc sinh vượng nhi vô thương
Năm được dồi dào vì Tài Phúc vượng mà không bị hình thương.
Tử Tôn đắc địa, Tài hào hữu khí chẳng lam Không, Huynh Quỷ đều suy tĩnh thì ắt năm được mùa dồi dào.

31. 冬暖夏凉水火休囚而莫助
Đông noãn Hạ lương, Thuỷ Hoả hưu tù nhi mạc trợ
Đông ấm, Hạ mát bì Thuỷ, Hoả hưu tù mà chẳng được trợ giúp.
Dùng Tài, Phụ để xem hạn và lụt, hào Thuỷ, Hoả để xem lạnh nóng. Nếu Thủy lâm Không thì Đông tất ấm, Hoả ở Tử Tuyệt thì Hạ tất mát. Nếu vượng động khắc Thế thì cực nóng hoặc cực lạnh.

32. 他宮傷剋外番侵凌
Tha cung thương khắc ngoại phiên xâm lăng
Cung khác mà khắc hại thì nước bên ngoài xâm lấn.
Tha cung là nước bên ngoài, không có tha cung thì xem ngoại quái. Nếu khắc thương khắc bản cung thì nước ngoài đến xâm phạm. Ngoại sinh nội thì tiến cống nhiều.

33. 本卦休囚國家衰替
Bản quái hưu tù, quốc gia suy thế
Quẻ gốc hưu tù thì nước nhà suy tàn.
Bản quái là nước nhà, không có bản cung thì xem nội quái. Nếu vượng tướng thì quốc gia cường thịnh, vô khí thì nước nhà suy tàn.

34. 陰陽相合定然雨順風調
Âm Dương tương hợp định nhiên vũ thuận phong điều
Âm Dương hợp nhau thì mưa thuận gió hoà.
Phàn gặp Thế Ứng tương sinh, lục hào tương hợpnăm đó chủ mưa thuận gió hoà, lại được an tĩnh. Tài Phúc chẳng Không thì năm được mùa.

35. 兄鬼皆亡必主國泰民安
Huynh Quỷ giai vong, tất chủ dân an quốc thái
Huynh Quỷ đều Không tất chủ quốc thái dân an.
Huynh Đệ là thần bóc lột, phá bại, Quan Quỷ chủ hoạ hoạn tai ương. Huynh và Quỷ đều Không vong hoặc không có trong quẻ thì chủ quốc thái dân an,

36. 明天道能知萬象之森羅
識透玄機奚啻一年之休咎
Suy minh Thiên đạo, năng tri vạn tượng chi sâm la
Thức thấu huyền cơ, hề thí nhất niên chi hưu cựu
Suy rõ Thiên đạo thì có thể biết vạn vật bao la,
Thấu rõ huyền vi, sao chẳng rõ tốt xấu trong năm. 


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - PHẦN III PHỤ LỤC

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - LUẬN VỀ SAI LẦM CỦA CÁC SÁCH VỀ BỐC DỊCH

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - Phần 2 Vấn đáp