TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - Chương 32 QUỐC TRIỀU
Chương
32
QUỐC TRIỀU
國 朝
(Chính
sự)
1.君 恕 則 臣 忠 共 濟 明 良 之 會
國 泰 則 民 樂當 推 禍
福 之 源
雖 天 地 尚 知 共 始
終 況 國 家 豈 能 無 興 廢
本 宮 旺 相 周 文 王
創 八 百 年 之 基
大 象 休 囚 秦 始 皇
遺 二 世 主 之 禍
Quân
thứ tắc thần trung, cọng tế minh lương chi hội
Quốc
thái tắc dân lạc, đương suy hoạ phúc chi nguyên
Tuy
Thiên Địa thượng tri cọng thuỷ chung - Huống Quốc Gia khởi năng vô hưng phế.
Bản
cung vượng tướng, Chu Văn Vương sáng bát bách
niên chi cơ
Đại
tượng hưu tù, Tần Thuỷ Hoàng di nhị thế chủ chi hoạ.
Vua khoan thì thần trung, cùng giúp
vận hội (vua) sáng (tôi) hiền.
Nước thái thì dân lạc, phải suy căn
nguyên phúc hoạ.
Tuy là Trời Đất phải biết có thuỷ có
chung - Huống chi Nước Nhà há nào không
hưng không phế
Bản cung vượng tướng, Chu Văn Vương
sáng nghiệp tám trăm năm
Đại tượng hưu tù, Tần Thuỷ Hoàng truyền
lại hai đời chúa.
Như bề tôi bói, lấy bản cung làm triều
đình, lấy Thái Tuế làm hào chỉ vua, hào hợp vơis Thái Tuế là hào chỉ Hoàng hậu, Nguyền kiến là hào chỉ quan , Nhật thần là hào
Đông cung, Tử Tôn là hào của thứ dân, hào Phụ là quốc gia. Bói được bản cung vượng
tướng thì như con cháu của Chu Văn Vương hưởng được vận nước dài đến tám trăm năm.
Nếu bản cung hưu tù , đại tượng lại hung thì như Tần Thuỷ Hoàng chỉ được hai đời
là mất nước.
2. 九 五 逢 陽 當 遇 仁 明 之 主
四 爻 值 福 必 多 忠 義 之 臣
Cửu
ngũ phùng dương, đương ngộ nhân minh chi chúa
Tứ
hào trị Phúc, tất đa trung nghĩa chi thần.
Hào ngũ thuộc dương, gặp được chúa
nhân từ sáng suốt
Hào từ ở Phúc, tất có nhiều quan
trung nghĩa)
Hào ngũ là vị trí của vua, gặp hào dương
là tượng gặp thanh long tài phúcấy là vua nhân từ sáng suốt. Hào tứ là vị trí của
quan, nếu là hào Phúc Đức vượng tướng là quan thẳng thắn can ngăn, nêu ở Quan
Quỷ, Huynh Đệ là quan a dua nịnh bợ.
3. 歲 剋 衰 宮 玉 樹 後 庭 h花 欲 謝
Tuế
khắc suy cung, Ngọc thụ Hậu Đình Hoa dục tạ
Thái Tuế khắc mà bản cung thì suy, cây
ngọc sân sau hoa muốn rụng[1].
Bản cung suy nhược bị Thắi Tuế khắc,
nước có điềm vong loạn. Trần Hậu Chúa tuyển cung nữ có làm khúc “Ngọc thụ Hậu đình
Hoa”, vua tôi sớm tối say mê ca hát, sau bị nhà Tuỳ diệt.
4. 年 傷 弱 世 鼎 湖 龍 去 不 多 時
Niên
thương nhược Thế, đỉnh hồ long khứ bất đa thời
Năm khắc Thế suy nhược, không bao lâu
vua sẽ mất[2].
Câu này nói đến vua tự bói. Nếu Thái Tuế hình xung khắc hại hào Thế thì
chủ bị tật bệnh, hoặc trong nước gặp nạn.
5. 世 臨 沐 浴 合 妻 財 夫 差 戀 西 诗 而 亡 國
Thế
lâm Mộc Dục hợp Thê Tài, Phù Sai luyến Tây Thi nhi vong quốc
Thế ở Mộc Dục hợp với Thê Tài là Phù
Sai say mê Tây Thi mà mất nước.
Câu này nói trường hợp vua tự bói. Nếu
Thế ở Mộc Dục mà hợp với hào Thê, hay hào Ứng hoặc Mộc Dục động khắc hợp với hào
Thế tất hiếu sắc, như Phù Sai say mê sắc đẹp của Tây Thi mà bị nước Việt diệt.
6. 應 帶 咸 池 臨 九 五 武 后 革 唐 命 而 為 周
Ứng
đới Hàm Trì lâm cửu ngũ, Vũ hậu cách Đường mệnh nhi vi Chu
Ứng có Hàm Trì mà ở vị trí cửu ngũ là
Vũ hậu thay nhà Đường mà lập nên nhà Chu .
Vua tự bói thì lấy hào Ứng làm Hoàng
hậu. Nếu mang Hàm Trì thì về sau tất dâm, nếu lại ở vị trí hào ngũ khắc Thế thì như Vũ hậu nhà Đường phế vua Trung Tông làm
Lư Lăng Vương,thay nhà Đường mà lập nên nhà Châu.
7. 遊 魂 遇 空 虞 舜 南 巡 不 返
Du
hồn ngộ Không, Ngu Thuấn nam tuần bất phản
Quẻ Du hồn mà lâm Khôngắnh vua Ngu Thuấn đi tuần phương nam mà không trở
về.
Quẻ gặp Du hồn không nên rời kinh đi
tuần thú, nếu thâm hung sát khắc Thế , hoặc hào Thế động hoá Mộ Tuyệt thì như
vua Ngu Thuấn đi tuần phương nam rồi mất ở Thương Ngô.
8. 歸 魂 帶 煞 始 h皇 返 國 亡 身
Qui
hồn đới Sát, Thuỷ Hoàng phản quốc vong thân
Quẻ Qui hồn mà bị khắc chế thì như Tàn
Thuỷ Hoàng trở về nước mà mất.
Nếu gặp quẻ Qui hồn mà động hào khắc
Thế Thân thì như Thuỷ Hoàng cầu tiên ở biển, trở về nước mà mất ở Sa Khâu.
9. 子 發 逢 空 張 子 房 起 歸 山 之 計
Tử
phát phùng Không, Trương Tử Phòng khởi qui sơn chi kế
Tử động gặp Không thì như Trương Tử
Phòng tính kế vào núi tu tiên.
Tử Tôn ở cung khác là bề tôi, nếu lâm
Không mà động, bị hào Thế khắc hại, tất vua muốn hại tôi như Trương Lương đời Hán
bỏ chức mà đi theo Xích Tòng Tử.
10. 將 星 被 害 岳 武 穆 抱 籲 天 之 冤
Tướng
tinh bị hại, Nhạc Vũ Mục bão dụ thiên chi oan
Tướng tinh bị hại thì như Nhạc Vũ Mục
ôm nỗi oan thấu trời.
Tướng tinh là như ngày Dần Ngọ Tuất
xem bói thì Ngọ là Tướng tinh, ngoài ra
cứ thế mà suy. Nếu Tướng tinh ở haod Tài, Tử tất được người trung lương trí dũng,
ở Quan Quỷ có Bạch Hổ là tướng hung tợn. Nếu ở Quan Quỷ khắc hại hào Thế sợ có âm
mưu tạo biến. Tướng tinh bị động hào khắc hại thì như Nhạc Vũ Mục bị Tần Cối hại.
11. 應 旺 生 合 世 爻 聖 主 得 椒 房 之 助
Ứng
vượng sinh hợp Thế hào, Thánh chúa đắc tiêu phòng chi trợ
Ứng vượng sinh hợp hào Thếthì vua được
trợ giúp của hoàng hậu.
Hào Ứng là hoàng hậu, nếu vượng tướng sinh hợp hào Thế
lại ở Tài, Phúc thì hoàng hậu trí lược nhân từ, khiến vua làm thiện như Mã Hậu đời
Hán , Tuyên Nhân đời Tống là bậc Nghiêu Thuấn trong đám nữ lưu.
12. 日 辰 拱 扶 子 位 東 宮 攝 天 子 之 權
Nhật
thần củng phù Tử vị, đông cung nhiếp thiên tử chi quyền
Nhật thần củng phù hào Tử là đông
cung nắm quyền thay vua.
Nếu Tử Tôn ở bản cung sinh vượng, lại
được Nhật thần phò trợ là muốn truyền ngôi cho thái tử, là lúc nước có việc thế
quyền cai trị nước.
13. 世 剋 福 爻 唐 玄 宗 有 殺 兒 之 事
Thế
khắc Phúc hào, Đường Huyền Tông hữu sát nhi chi sự
Thế khắc hào Phúc là có việc Đường Huyền Tông giết con.
Nếu Thế khắc hào Tử bị Mộ Tuyệt ở bản cung, là Thái tử bị sàm tấu làm hại,
như Đường Huyền Tông tin lời dèm pha của Lý Lâm Phủ mà phế cả Thái tử, Anh Ngạc Vương tên Diêu, Quang Vương tên Cứ rồi
bắt phải chết.
14. 子傷 君 位 隋 楊 廣 有 弒 父 之 心
Tử
thương quân vị, Tuỳ Dương Quảng hữu thí phụ chi tâm
Tử thương hào quân, Dương Quảng đời
Tuỳ có lòng giết cha).
Tử Tôn ở bản cung vượng động khắc hào
Thế là có điềm Thái tử muốn đoạt ngôi, như Tuỳ Dương Quảng giết cha mà tự lập làm
vua.
15. 一 卦 無 孫 宋 仁 t宗 有 絕 嗣 之 歎
Nhất
quái vô Tôn, Tống Nhân Tông hữu tuyệt tự chi thán
Gặp quẻ không có Tử Tôn, Tống Nhân Tông
than thở vì tuyệt tự.
Trong quẻ không có hào Tử Tôn hoặc
Tử Tôn hưu tù động nhập Mộ, tất nước không
có Thái tử, như Tống Nhân Tông than thở không có con.
16. 四 爻 剋 子 秦 扶 蘇 中 趙 相 之 謀
Tứ
hào khắc Tử, Tần Phù Tô trúng Triệu tướng chi mưu
Hào tứ khắc Tử Tôn, Phù Tô nước Tần
trúng mưu của tướng họ Triệu.
Hào tứ là vị trí của bề tôi, nếu vượng
động khắc hại Tử Tôn của bản cung thì như Thái tử Phù Tô của nước Tần bị Triệu
Cao giả chiếu bắt phải chết.
17. 身 值 動 官 唐 泰 宗 禁 庭 蹀 血
Thân
trị động Quan, Đường Thái Tông cấm đình điệp huyết
Thân ở Quan Quỷ động, Đường Thái Tông
dẫm lên máu ở nơi cung cấm.
Thân Thế trì Quan vượng động tất khắc
sát Huynh Đệ, như Đường Thái Tông phục binh ở cổng Huyền Vũ bắn chết Kiến Thành,
Nguyên Cát, máu chảy chốn cung cấm làm ngựa dẫm phải.
18. 世 安 空 弟 周 t泰 百 讓 國 逃 荆
Thế
an Không Đệ , Chu Thái Bá nhượng quốc đào Kinh
Thế ở Huynh Đệ lâm Không, Chu Thái Bá
nhường nước trốn vào đất Kinh.
Thế trì Huynh Đệ lâm Không, hợp với
Ứng hào, bị cát thần động khắc, là tượng anh em nhường nhau ngôi thiên tử, như
Chu Thái Bá giả hái thuốc trốn vào Kinh Man, nhường ngôi cho Quí Lịch.
19. 凶 神 生 合 世 爻 玄 宗 信 臨 甫 之 佞
Hung
thần sinh hợp Thế hào, Huyền Tông tín Lâm Phủ chi nịnh
Hung thần sinh hợp với hào Thế, Huyền Tông tin lời nịnh của Lâm Phủ.
Nếu Quỷ sát động mà sinh hợp hào Thế
là nịnh thần du nịnh, được vua tín nhiệm, như Đường Huyền Tông tín dùng Lý Lâm
Phủ trong mười chín năm làm thiên hạ đại loạn.
20. 君 位 傷 剋 四 位 商 纣 害 比 干 之 忠
Quân
vị thương khắc tứ vị , Thương Trụ hại Tỉ Can chi trung
Quân vị thương khắc hào tứ, vua Trụ
nhà Thương hại trung thần Tỉ Can.
Hào tứ là bề tôi, trì Tài Tử mà bị hào
vua thương khắc như Tỉ Can tận trung mà bị vua Trụ giết.
21. 離 宮
變 入 坎 宮 帶 凶 煞 而 徽 欽 亡 身 於 漠 北
Li
cung biến nhập Khảm cung, đới hung sát nhi Huy Khâm vong thân ư mạc bắc
Cung Li biến nhập vào cung Khảm bị
hung sát nên Huy Khâm bỏ mạng ở sa mạc phía bắc.
Quái tượng hung, Thế lại bị khắc, hoặc
đông nhập Mộ Tuyệt là điềm chết. Li nam Khảm bắc, Li hoá Khảm là từ Nam vào
Bắc, như Tống Huy Khâm bị nước Kim bắt, chết ở sa mạc phía bắc.
22. 乾 象 化 巽 象 有 吉 曜 而 孫 劉 鼎 足 於 東 南
Càn
tượng hoá vi Tốn tượng, hữu cát diệu nhi Tôn Lưu đỉnh túc ư đông nam
Quẻ Càn hoá Tốn, có cát tinh mà Tôn
và Lưu chia chân vạc ở đông nam.
Càn biến Tốn đại tượng là hung, nếu
có cát tinh như Lưu Huyền Đức cùng với Ngô, Nguỵ phân ba chân vạc lập thành tam quốc.
23. 國 之 治 亂 興 衰 卦 理 推 詳 剖 決
Quốc
chi trị loạn hưng suy, quái lý suy tường phẩu quyết
Nước yên, loạn hay hưng, suy đều phân
tích quẻ để suy rõ.
[1] Ở đây Ngọc Thụ Hậu Đình Hoa
dung với hai nghĩa là “tên khúc hát của Trần Hậu Chúa” và “hoa của cây ngọc ở sân sau”
[2] Đỉnh Hồ long khứ là “rồng đi
khỏi đỉnh Hồ”. Sử Ký chép: Hoàng Đế đúc đỉnh ở dưới núi Kinh Sơn. Đỉnh đúc
xong, vua cỡi rồng lên tiên. Người sau dùng từ này để nói bậc đế vương chết.
Nhận xét
Đăng nhận xét