TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - Chương 33 CHINH CHIẾN


Chương 33
CHINH CHIẾN

            1.醫 不 執 方 兵 不 執 法 堪 稱 大 將 才 能
                  謀 事 在 人 成 事 在 天 當 究 先 師 妙 論
                   觀 世 應 之 旺 衰 以 决 兩 家 之 勝 負
                  將 福 官 之 強 弱 以 分 彼 我 之 君 師  
            Y bất chấp phương, binh bất chấp pháp, kham xưng đại tướng tài năng
            Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, đương cứu tiên sư diệu luận.
            Quan Thế Ứng chi vượng suy, dĩ quyết lưỡng gia chi thắng phụ
            Tương Phúc Quan chi cường nhược, dĩ phân bỉ ngã chi quân sư
            Trị bệnh không chấp phái thuốc, dùng binh không chấp binh pháp mới xứng tài đại tướng
            Mưu sự tại ngườ,i thành sự tại trời,  trước tiên phải xét luận bạn của các thầy đời trước;
            Xem vượng suy của Thế Ứng để quyết hơn thua của hai phe,
            Đem mạnh yếu của Phúc Quan để phân quân sư của ta và người.
            Thế là ta, Ứng là người. Thế vượng khắc Ứng thì thắng, Ứng vượng khắc Thế thì thua. Tử là tướng của ta, Quỷ là tướng của người.
            2. 父 母 興 隆 主 望 旌 旗 之 蔽 野
                   金 爻 空 動 聽 金 鼓 之 咺天
            Phụ Mẫu hưng long chủ vọng tinh kỳ chi tế dã
            Kim Phụ không động thính kim cổ chi huyên thiên.
            Phụ Mẫu hưng vượng chủ nhìn thấy cờ xí che kín đồng rộng
            Hào Phụ thuộc Kim động lâm Không thì nghe chuông trống vang trời.
            Phụ Mẫu là cờ xí. Kim động là nghe tiếng chuông trống, Kim lâm Không  nên có tiếng vang.

            3. 財 為 糧 草 之 本 根
                   兄乃 伏 兵 之 形 勢
Tài vi lương thảo chi bản căn
Huynh nãi phục binh chi hình thế
            Tài là nền tảng của lương thảo
Huynh là hình thế của phục binh.
            Tài là lương thảo, vượng thì nhiều, suy thì ít, Không thì chẳng có lương. Huynh là phục binh, lại là thần đoạt lương, không nên vượng động.

            4. 水 興 扶 世濟 川 宜 駕 乎 輕 舟
                  
                        火 旺 生 身 立 寨 必 安 於 勝 地
            Thủy hưng phù Thế tế xuyên nghi giá khinh chu
            Hỏa vượng sinh Thân lập trại tất an ư thắng địa.
            Thủy vượng phò Thế, vượt sông nên dùng thuyền nhẹ,
            Hỏa vương sinh Thân, lập trại tất được đất hình thế tốt.
            Thế nếu động sinh phò Thế Thân, hoặc Tử Tôn thuộc Thủy động, nên dùng thuyền vượt sông mà đánh tất thắng. Hỏa nếu vượng động sinh phò Thế Thân, dựng trại tất được đất có địa thế tốt.

            5. 父 母 興 持 主 帥 無 寬 仁 之 德
                   子 孫 得 地 將 軍 有 决 勝 之 才
            Phụ Mẫu hưng trì chủ soái vô khoan nhân chi đức,
            Tử Tôn đắc địa tướng quân hữu quyết thắng chi tài.
            Phụ Mẫu vượng trì Thế, chủ soái không có đức khoan dung,
            Tử Tôn đắc địa[1]  thì tướng cầm quân có tài quyết thắng.
            Phụ Mẫu trì Thế động là chủ súy không thương quân sĩ, trên dưới không đoàn kết, nếu với Huynh Đệ và Quan Quỷ thì phòng có biến.  Nếu Tử Tôn trì Thế vượng động thì tướng cầm quân tất có tài quyết thắng ngoài ngàn dặm.

            6.水 爻 剋 子 子 孫 強 韓 信 背 水 陣 而 陳 餘 被 斬
            Thủy hào khắc Tử, Tử Tôn cường, Hàn Tín bối thủy trận nhi Trần Dư bị trảm
            Thủy hào khắc Tử mà Tử vượng thì như Hàn Tín xây lưng vào sông bày trận mà Trần Dư bị chém.
            Thế trì Thủy động hoặc Thủy hào khắc Tử Tôn, nếu Tử Tôn cũng động được Nhật Nguyệt sinh hpò thì có thể bắt chước Hàn Tín dựa lưng vào nước để bày trận mà lại thắng.

            7. 陰 象 持 兄 兄 剋 應 李 愬 雪 夜 走 而 元 濟 遭 擒
            Âm tượng trì Huynh, Huynh khắc Ứng, Lý Tố dạ tẩu nhi Nguyên Tế tao cầm.  
            Huynh trì hào âm, Huynh khắc Ứng mà Lý Tố thừa đêm trời tuyết  mà bắt Nguyên Tế.
            Huynh là phục binh, tại Nội quái động khắc hào Ứng, là phục binh của ta, khắc Thế là phục binh của người. Nếu ở hào dương nên phục binh ban ngày, tại hào âm nên phục binh ban đêm, như vào triều Hiến Tông, Lý Tố đi trong đêm truyết cho ngựa ngặm tăm thẳng đến Sái thành bắt Ngô Nguyên Tế.

           
8. 世 持 子 而 被 傷 可 效 周 亞 夫 堅 壁 不 戰
                                                                                                                                                                                                                                                                        Thế trì Tử nhi bị thương, khả hiệu Chu Á Phu kiên bích bất chiến.
            Thế trì Tử mà bị thương, có thể bắt chước Chu á Phu giữ vững không đánh.
           
Thế trì Tử Tôn thì tướng tất có tài năng, có thể thắng địch. Nếu bị động khắc thì nên cố thủ, không nên tốc chiến, như thời Hán Cảnh Đế bảy nước làm phản, vua sai Chu  Á Phu đóng đồn ở Tế Liễu để đánh.  Nửa đêm quân sợ hãi rối loạn, Chu Á Phu nằm yên không dậy, lo đào hào đắp luỹ, mới ngày sau mới định yên quân, rồi phá được quân của bảy nước.

            9. 應 臨 官 而 遭 剋 當 如 司 馬 懿 固 壘 休 兵
Ứng lâm Quan nhi tao khắc, đương như Tư Mã Ý cố luỹ hưu binh
            Ứng lâm hào Quan mà bị khắc, nên nư Tư Mã Ý giưc vững luỹ không ra đánh.
            Ứng trì Quan vượng, tướng địch tài năng, ta tuy đối địch dù có Tử Tôn động cũng không thể thắng lớn, giống như thời Tam quốc, Tư Mã Ý tự liệu không bằng Khổng Minh cam chịu nhận lấy khăn yếm của phụ nữ cố thủ không ra đánh.   

            10. 世 持 衰 福 得 生 扶 王 剪 以 六 十 萬 眾 而 勝楚  
                         Thế trì suy Phúc đắc sinh phù Vương Tiến dĩ lục thập vạn chúng nhi thắng Sở
             Thế ở Phúc suy, được sinh phò như Vương Tiễn đem sáu mươi vạn binh mà thắng Sở.
Thân Thế tuy trì Tử  suy nhượccũng khó thắng. Nếu được Nguyệt kiến, Nhật thần sinh phò, có thể băts chước thời Tần Thuỷ Hoàng, Vương Tiễn đem sáu chục vạn quân mà đánh thắng Sở.   

11. 卦 有 眾官 臨 旺 子 謝 玄 以 八 千 之 兵 而 破秦
 Quái hữu chúng Quan lâm vượng Tử, Tạ Huyền dĩ bát thiên chi binh nhi phá Tần.
Quẻ có nhiều hào Quan mà Tử vượng, như Tạ Huyền đem tám ngàn quân mà phá Tần.
Hào Quan tuy nhiều mà an tĩnh, Tử Tôn tuy ít mà vượng động thì ít có thể thắng đông, như Tạ Huyền Lưu Lao đời Tấn dùng tám ngàn quân phá được chín mươi vạn quân của Tần vương Phù Kiên.

12. 兩 子 合 世 扶 身 李 郭 同 心 而 興 唐 室
 Lưỡng Tử hợp Thế phù Thân, Lý Quách đồng tâm nhi hưng Đường thất
Hai Tử hợp Thế phò Thân mà Lý Quách đồng tâm chấn hưng nhà Đường.
Quẻ có hai hào Tử vượng động sinh Thế, chủ có hai tướng hợp mưu thắng địch, như hai tướng Lý Bật và Quách Tử Nghi đời Đường giữ lòng trung nghĩa gắng sức dẹp loạn, hưng khởi nhà Đường.

13. 二 福 刑 冲 化 絕鍾 鄧 互 隙 而 喪 身 家
 Nhị Phúc hình xung hoá Tuyệt, Chung Đặng hỗ khích nhi táng thân gia
Hai Phúc hình xung hoá Tuyệt mà Chung và Đặng hiềm khích nhau khiến táng thân.
Hai hào Tử Tôn vượng động đều hoá nhập Mộ, Tử, Tuyệt, Không tuy thắng địch, cũng vì tranh quyền đoạt sủng mà tàn hại lẫn nhau như Chung Hội và Đặng Ngãi đời Tấn đem quân bình đất Thục. Thục tuy bình đình mà hai tướng tàn hại lẫn nhau khiến tan nát thân gia.   


14. 子 化 死 爻 曹 操 喪 師 於 赤 壁
 Tử hoá Tử hào Tào Tháo táng sư ư Xích Bích
Tử hoà Tử mà Tào Tháo chôn quân ở Xích Bích
Tử Tôn là quân ta, nếu động nhập Tử, Mộ, Tuyệt, Bại mà Ứng lâm Quỷ Phụ động thương Thân Thế tất hao binh tổn tướng, như Tào Tháo bị thua Chu Du, Hoàng Cái. 

15. 世 逢 絕 地 項 羽自 刎 於 烏 江
Thế phùng Tuyệt địa, Hạng Vũ tự vẫn ư Ô giang.
Thế gặp Tuyệt địa mà Hạng Vũ tự vẫn ở sông Ô
Thế là quốc chủ, tướng suý của ba quân, nên vượng động khắc Ứng. Nếu Thế suy mà bị hào Ứng hình xung khắc hại, động nhập Tử, Mộ, Không, Tuyệt thì như Hạng Vũ tự vẫn ở sông Ô.

16. 水 鬼 剋 身 秦 符 堅 有 淝 水 之 敗
Thuỷ Quỷ khắc Thân, Tần Phù Kiên hữu Phì thuỷ chi bại
Thuỷ Quỷ khắc Thân như Tần Phù Kiên bị thua ở sông Phì.
Thuỷ Quỷ vượng động thương khắc Thế Thân, tất quân địch được lợi thuyền bè qua sông, như quân của Tần Phù Kiên bị tám ngàn quân của Tạ Huyền vượt sông đánh bại.

17. 火 官 持 世 漢 高 祖 遇 平 城 之 圍
 Hoả Quan trì Thế Hán Cao Tổ ngộ Bình Thành chi vi
Hoả Quan trì Thế như Hán Cao Tổ bị vây ở Bình Thành.
Hoả hào lâm Quỷ thì trại giặc tất gần, Hoả hào trì Thế nên phòng bị vây. Tử Tôn vượng động thì bị vây lại thắng. Nếu Tử suy Quan vượng thì giống như Hán Cao Tổ bị vây bảy ngày ở Bình Thành mới được giải vây.

18. 應 官 剋 世 卦 無 財 張 睢 陽 食 盡 而 斃
Ứng Quan khắc Thế, quái vô Tài Trương Tuy Dương thực tận nhi tễ
Ứng Quan khắc Thế, quẻ không có Tài, Trương ở Tuy Dương hết lương thực mà chết.
Ứng hào trì Quỷ khắc Thế, trong quẻ không có Tài hào, là tượng chết vì không có lương ăn, như Trương Tuần bị vây ở thành Duy Dương.

19. 世 鬼 興 隆 生 合 應 呂 文 煥 無 援 而 降
Thế Quỷ hưng long sinh hợp Ứng, Lữ Văn Hoán vô viện nhi hàng.
Thế Quỷ hưng vượng sinh hợp với Ứng, Lữ văn Hoán không có viện quân phải hàng.
Vượng Quỷ trì Thế là tượng bị vây khốn, trong quẻ không có hào Tài, Tử, lại Thế suy nhược, lại sinh hợp hào Ứng, là điềm lương thiếu, quân ít phải hàng địch. Đời Tống Lữ Văn Hoán giữ thành Tương Dương bị quân Nguyên vây lâu ngày, Giả Tự Đạo che giấu việc, thành không có viện quân, hết lương phải hàng.   

20. 外 宮 子 動 化 絕 爻 李 陵 所 以 降 虜
Ngoại cung Tử động hoá Tuyệt hào Lý Lăng sở dĩ hàng lỗ.
Ngoại cung Tử động hoá Tuyệt, Lý Lăng bị bắt phải hàng.
Tử ở ngoại cung động, Thế bị Ứng khắc xuối cùng tất bại. Lại hoá Tuyệt không tránh khỏi bị bắt mà phải hàng, như việc Lý Lăng thời Hán Vũ Đế .

21.內 卦 福 興 生 合 應 樂 毅 所 以 背 燕
Nội quái Phúc hưng sinh hợp Ứng, Nhạc Nghị sở dĩ bội Yên.
Phúc hưng ở nội quái, sinh hợp với Ứng như Nhạc Nghị phải phản Yên.
Tử Tôn phát động mà ngược đi sinh Ứng, thương khắc Thế Thân là điềm binh tướng của ta phản đi hàng địch, như Nhạc Nghi tướng của nước Yên đầu hàng quân Triệu.    

22. 鬼 雖 衰 而 遇 生 扶 勿 追 窮 寇
Quỷ tuy suy nhi ngộ sinh phù, vật truy cùng khấu
Quỷ tuy suy, gặp sinh phò chớ đuổi địch đến cùng.
Hào Quan tuy suy nêứu được động hào, Nhật thần sinh phò củng hợp thì quân địch tuy ít nhưng được cứu viện.

23. 子 雖 旺 而 遭 剋 制 毋 急 興 師
Tử tuy vượng nhi tao khắc vô cấp hưng sư.
Tử tuy vượng mà gặp khắc không gấp khởi binh.
Tử Tôn tuy vượng nếu bị Nhật thần, động hào khắc hại, quân địch tất có mưu tính, không thể đánh gấp, đánh tất không đến nỗi đại bại nhưng hao quân, mất uy, cần thong thả.   

24.鬼 爻 暗 動 傷 身 吳 王 被 專 諸 之 刺
Quỷ hào ám động thương Thân, Ngô Vương bị Chuyên Chư chi thích
Hào Quỷ ám động thương Thân, Ngô Vương bị Chuyên Chư hành thích.
Vượng Quan ám động khắc hại Thế Thân như Vua Ngô bị Chuyên Chư hành thích. Thế khắc Quỷ ám động, hoặc Tử động đến cứu như Kinh Kha hành thích Tần Vương không được nên bị chết.

25. 子 化 官 爻 剋 世 張 飛 遭 范張 之 誅
Tử hoá Quan hào khắc Thế, Trương Phi tao Phạm Trương chi tru
Tử hoá Quan khắc Thế như Trương Phi bị Phạm, Trương giết.
Tử Tôn hoá Quan Quỷ sinh hợp hào Ứng, ngượ lại đi khắc hại Thế Thân thì binh lính ta giết chủ hàng địch, như Trương Dực Đức đời Hậu Hán bị bộ tốt Phạm Cương, Trương Đạt hành thích trong trướng mà hàng Tôn Quyền.

26. 要 識 用 兵 之 利 器 五 行 卦 象 併 推 詳
Yếu thức dụng binh chi lợi khí, ngũ hành quái tượng tính suy tường
Muốn biết dùng loại vũ khí nào tốt,  phải suy rõ ngũ hành cùng quái tượng.
Thổ là đạn đá, Kim là đao tên, Tuỷ Mộc là thuyền bè, Hoả là dinh trại. Lại Càn Đoài là đao, Chấn Tốn là cung, là lửa, là súng. Khôn là đánh ngoài đồng chẳng hạn. Nếu là thần khắc Ứng thì nên dùng vũ khí này  để đánh, nếu bị Ứng khắc thì nên phòng địch dùng loại vũ khí đó.

仁 智 勇嚴 之 將 豈 越 於 此
攻 守 剋 敵 用 兵 當 審 於 時
Nhân trí dũng nghiêm chi tướng khởi việt ư thử,
Công thủ khắc địch dụng binh đương thẩm ư thời.
Nhân trí dũng nghiêm của tướng há vượt qua được sao,
Dụng binh công thủ khắc địch phải xem xét thời vận.
       







             
  



[1] tức có vị thế tốt như được sinh phò, hoặc vượng tướng...

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - PHẦN III PHỤ LỤC

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - LUẬN VỀ SAI LẦM CỦA CÁC SÁCH VỀ BỐC DỊCH

TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - Phần 2 Vấn đáp