TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - Chương 34 TỊ LOẠN
Chương 34
TỊ LOẠN
避 亂
TRÁNH
LOẠN
人
有 窮 通 ,
世 有 否 泰 .
自 嗟 薄 命 運 當 離 亂 之 秋 ,
每 嘆 窮 途 聊 演 變 通 之 易
因 錄 已 驗 之 卦 爻
為 决 當 今 之 賊 寇
Nhân hữu cùng thông
Thế hữu bỉ thái
Tự tha bạc mệnh vận đương li loạn chi thu
Mỗi thán cùng đồ liêu diễn biến thông chi Dịch
Người có cùng thông - Đời có bỉ thái
Tự than mệnh bạc vận số gặp lúc li loan
Khi gặp đường cùng hày diễn Dịch lý biến thông.
Nhân lục những quẻ đã ứng nghiệm mà đoán được giặc cướp hiện nay.
Phương của quan Quỷ và nơi bị Quan Quỷ khắc chớ có đến. Phương của Tử Tôn
và nơi sinh Ta thì nên đến. Như xem ở lại chỗ cũ, được Tử Tôn chỉ sinh một mình
Ta, thì ở lại nơi đáng sợ đó[1].
Xem bỏ đi nơi khác cũng thế. Đó là yếu chỉ của thiên này.
1. 鬼 位 興 隆 賊 勢 必 然 猖 獗
官
爻 墓 絕 人 心 始 得 安 康
Quỷ vị hưng long tặc thế tất nhiên xương quyết
Quan hào Mộ Tuyệt nhân tâm thủy đắc an khang.
Quan Quỷ hưng vượng, thế giặc
tất hung hãn,
Quan hào bị Mộ Tuyệt, lòng
người mới được yên vui.
Quan Quỷ vượng tướng phát động, giặc tất hung hãn. Nếu Quan Quỷ hưu tù an
tĩnh, bị Nhật thần, động hào khắc chế, tất yên ổn chẳng đáng sợ.
2. 路 上 如 逢 休 出 外
宅 中 如 遇 勿 歸 家
Lộ thượng như phùng, hưu xuất ngoại
Trạch trung như ngộ, vật qui gia
Trên đường nếu gặp chớ ra ngoài
Trong nhà nếu gặp chớ trở về.
Nội quái là nhà, ngoại quái là đường. Quỷ ở ngoại quái động, ra ngoài tất
gặp, nên ở trong nhà. Nếu Quỷ ở nội quái
động, nên trốn ở ngoài.
3. 動 來 刑 害 總 教 知 慧 也 難 逃
變
入 空 亡 若 被 勾 留 猶 可 脫
Động lai hình hại, tổng giao trí tuệ dã nan đào
Biến nhập Không vong, nhược bị câu lưu do khả thoát
Động mà hình hại, dù có trí huệ
cũng khó tránh
Nếu nập Không vong dù bị bắt
giữ cũng thoát được.
Nếu Quỷ động mà không hại Thế, dù có hung hãn, cũng không gặp họa. Nếu bị
hình xung khắc hại, tất rời đi mà lánh nạn.
Nếu hào Quan biến nhập Tử Mộ Không Tuyệt, tất đầu voi đuôi chuột, tất
gặp hung nhưng không phải là điềm xấu.
4. 日 辰 制 伏 何 妨 卦 裏 刑 傷
月
建 臨 持 勿 謂 爻 中 隱 伏
Nhật thần chế phục, hà phương quái lý hình thương
Nguyệt kiến lâm trì, vật vị hào trung ẩn phục.
Nhật thần chế phục, dù trong quẻ
bị hình thương nào có hại gì
Nguệt kiến lâm trì thì chớ bảo là đang phục dưới hào.
Quan Quỷ động hình khắc Thế hào, vốn là điềm hung, nếu được Nhật thần,
động hào khắc chế xung tán, đều gọi là được cứu, tất chẳng bị hại. Chỉ sợ
Nguyệt kiến, Nhật thần lâm Quỷ mà hình khắc Thế hào, tuy trong quẻ không có
Quỷ, cũng không tránh được tai họa.
5. 所 戀 者 提 起 之 神
所
賴 者 死 亡 之 地
Sở luyến giả đề khởi chi thần
Sở lại giả Tử Vong chi địa.
Thích được hào đề khởi
Cậy vào ở Tử Vong[2].
Hào Quỷ phục tàng là tốt. Nếu được Nhật thần, động hào xung khai, Phi
thần đề khởi, Phục thần vẫn tạo ra hại. Nếu Quan Quỷ thực Không, thực Phá mới
không bị tai họa.
6. 自 持 鬼 墓 墳 中 不 可 潛 藏
或
值 水 神 舟 內 猶 當 仔 細
Tự trì Quỷ Mộ, phần trung bất khả tiềm tàng
Hoặc trị Thuỷ thần, chu nội do đương tử tế.
Trì ở Quỷ Mộ chớ núp ở trong
lăng mộ
Nếu ở hào Thuỷ cũng xem kỹ khi
ở trong thuyền.
Hào Quan Quỷ nhập Mộ, phát động hình khắc hoặc trì Thế Thân là như nói trên.
Phàm gặp như thế không thể trốn trong lăng mộ. Gặp Mộc Quỷ thì kông tốn ở trong
bụi cỏ, gặp Thuỷ Quỷ không trốn ở trong thuyền, Kim Quỷ không thể trốn ở chùa
miếu, Hoả quỷ không thể trốn ở nơi lò đúc, lò rèn…
7. 子 爻
福 德 北 宜 行
午 象 官 爻 南 勿 往
Tí hào Phúc đức bắc nghi hành
Ngọ tượng Quan hào nam vật vãng
Tí hào là Tử Tôn thì nên đi về
phương Bắc
Ngọ hào là quan Quỷ thì tránh
đến phương Nam ).
Phương của Quan Quỷ la nơi ra vào của giặc nên tránh, phương của Tử Tôn
là nơi giặc không đến thì nên đến đó.
8. 鬼 逢
冲 散 何 須 剋 制 之 鄉
福 遇 空 亡 莫 n若 生 扶 之 地
Quỷ phùng xung tán, hà tu khắc chế chi hương
Phúc ngộ Không vong, mạc nhược sinh phù chi địa
Quỷ gặp xung tán, cần gì tìm
phương khắc chế
Phúc gặp Không vong, thì không
bằng ở phương sinh phò.
Phương của Tử Tôn vốn tốt vì cớ xhế Quan Quỷ, nếu phát động thì lấy
phương này. Nếu Phúc tĩnh, Quan động mà trong quẻ có hào xung tán Quan, thì lấy
phương xung tán này là tốt, vì cớ là hào có thể dùng được. Nếu Tử Tôn lâm Không
Phục, suy tĩnh, bị chế mà hào Quỷ không bị xung tánthì nên lấy phương sinh Thế,
hợp Thế là tốt.
9. 旺 興
內 卦 終 來 本 境 橫 行
Vượng hưng nội quái, chung lai bản cảnh hoành hành
Vượng hưng ở nội quái, kết cục
là hoành hành ngay tại địa phương.
Phàm xem giặc cướp có đến địa phương ta không, nếu Quan tại nội quái của
quẻ phát động, tất sẽ đến. Tại ngoại
quái cung khác thì không xâm phạm ta.
Nếu trì Thế lâm nội quái thì đến ngay nhà của ta, ở ngoại quái lâm hào Ứng thì
tuy đến mà không vào nhà ta. Cũng kỵ lâm Quái thân.
10. 動 化 退 神 必 往 他 鄉 摽 掠
Động hoá Thoái Thần tất vãng tha hương phiêu lược
Động hoá Thoái Thần tất đi
cướp phá nơi khác.
Hào Quan phát động nếu hoá Thoái Thần, thì sẽ đi cướp phá nơi khác. Nếu
hoá Tấn Thần, giặc sẽ ào đến nên trốn gấp.
11. 官 運
旺 福 動 生 身 反 凶 為 吉
Quan vận vượng Phúc động sinh Thân, phản hung vi cát
Quan động, Phúc động sinh
Thế, hung trở thành cát.
Hào Quan phát động khắc Thế tất gặp hại. Nếu hoá xuất Tử Tôn khắc Quỷ,
hoặc Tử, Tài động đi sinh hợp Thế Thân, tất nhiên hoạ lại thành phúc.
12. 陽 化
陰 財 刑 剋 世 弄 假 成 真
Dương hoá âm Tài hình khắc Thế, lộng giả thành chân
Dương hoá âm Tài hình khắc
Thế, giả lại thành thật.
Quan hào phát động không thương khắc Thế, mà ngược lại bị Tài động khắc
Thế, tất vì tham tiền của mà bị hại.
13. 賊 興
三 合 爻 中 必 投 陷 井
Tặc hưng tam hợp hào trung, tất đầu hãm tỉnh
Giặc nổi lên trong tam hợp
cục, tất nhảy vào hố vào giếng.
Sợ nhất là động thành tam hợp Quỷ cục, tất chủ giặc bốn phía hợp lại, tuy
muốn tránh cũng không tránh được. Quẻ có hai hào Quỷ đều động khắc Thế, cũng
cần tam hợp thành Huynh cục, thân tuy vô sự mà tài vật đều mất, thành tam hợp
Phụ cục thì thận trọng với con trẻ; tam hợp Tài cục sinh hợp Thế tất chủ cha mẹ
thất tán; tamhợp Tử cục khắc chế hào Quỷ là tốt nhất.
14. 身 在
六 旬 空 處 終 脫 樊 籠
Thân tại lục Tuần Không xứ, chung thoát phiền lung
Thân ở Không vong của 6 Tuần[3],
cuối cùng cũng thoát khỏi rắc rối.
Thân Thế lâm Không tránh đi tất tốt.
15. 官 鬼
臨 身 任 爾 潛 蹤 猶 撞 見
Quan Quỷ lâm Thân, nhậm nhĩ tiềm tung do tràng kiến
Quan Quỷ ở Thâm, dù có trốn
cùng tìm ra được.
Quan hào trì Thế là giặc cướp đến bên mình, làm sao tránh được ? Như bị
bắt đi cũng khó mà trở về được.
16. 子 孫
持 世 總 然 對 面 不 相 逢
Tử Tôn trì Thế, túng nhiên đối diện bất tương phùng
Tử Tôn trì Thế, dù có đối mặt
cũng chẳng gặp được.
Tử Tôn trì Thế bất động cũng tốt, phát động càng hay hơn. nếu lâm Nguyệt
kiến hoặc Nhật thần, hoặc ở hào bên[4]
mà động cũng tốt. Trong quẻ tuy Quỷ động, cũng không đáng sợ.
17. 兄 變
官 爻 竊 恐 鄉 人 劫 掠
Huynh biến Quan hào, thiết khủng hương nhân kiếp lược
Huynh biến thành Quan, e sợ là
người làng đến cướp.
Trong quẻ không có hào Quan mà hào Huynh lại biến thành Quan, nên phòng
người làng thừa cơ cướp tiền của mà chẳng phải là giặp cướp. Huynh ở nội quái
là hàng xóm, tại ngoại quái thì ở xa hơn.
18. 財
l連 鬼 煞 須 防 臧 獲 私 臧
Tài liên Quỷ sát, tu phòng tang hoạch tư tàng
Tài cùng Quỷ sát, nên phòng
tôi tớ thu giấu.
Trong quẻ không có Quỷ, Tài biến thành Quan là nô
bộc giả trộm cướp lấy của, hoặc trong lúc loạn lạc, bị chúng lấy đem giấu. Nếu
ở ngoại quái là đàn bà trong làng.
19. 日 辰 冲 剋 財 爻 妻 孥 失 散
動 象 刑 傷 福 德 兒 女 拋 離
Nhật
thần xung khắc Tài hào, thê noa thất tán
Động tượng hình thương Phúc Đức, nhi nữ phao li
Nhật thần xung khắc hào Tài, vợ con thất
tán
Động hào hính thương Phúc Đức, con cái rời
xa.
Quan động tất có
kinh hiểm. Không kể là Nhật Thần, hay động hào, hễ bị hình thương là không yên.
Nếu xung khắc Thê Tài là chủ vợ con thất tán, xung khắc Tử Tôn tất chủ con cái
li tán.
20. 火 動 剋 身 恐 有 燎 毛 之 苦
水 興傷 世 必 成 滅 頂 之 凶
Hỏa
động khắc Thân, khủng hữu liệu mao chi khổ
Thủy hưng thương Thế, tất thành diệt đính chi hung.
Hỏa động khắc Thế, e dễ dàng bị khốn khổ,
Thủy động hại Thế, hung hại đã đến bên
đầu.
Trong quẻ Hoả
Quỷ động khắc Thế, chủ có hỏa tai, nếu Thủy Quỷ khắc Thế chủ có thủy tai.
21. 父 若 空 亡 包 裹 須 防 失 脫
妻 如 落 陷 財 物 當 慮 遺 亡
Phụ
nhược Không vong, bao khảo tu phòng thất thoát
Thê như lạc hãm, tài vật đương lự di vong.
Phụ hào lâm Không, cất giữ nên phòng mất
mát,
Thê hào lạc hãm, cần lo để mất tiền của.
Hòa Phụ lâm
Không, nếu không mất của cất giữ thì phải lo có sự bất trắc đối với cha mẹ. Tài
lâm Không phòng mất của, nếu không thì
thê thiếp gặp tai ương. Tử Tôn lâm Không lo về trẻ nhoe. Ngoài ra cứ thế mà
suy.
22. 五 位 交 重 兩 處 身 家 無 下 落
Ngũ
vị giao trùng, lưỡng xứ thân gia vô hạ lạc
Hào ngũ giao trùng, nhà và người hai nơi
không chỗ trú thân.
Phàm gặp hào ngũ
phát động, tránh loạn phải chạy đông chạy tây không yên. Người và nhà mỗi nơi.
Nếu lại bị Nhật thần, động hào xung tán hào Thế, tất không có chỗ để an thân.
23. 六 爻 亂 動 一 家 骨 肉 各 東 西
Lục
hào loạn động, nhất gia cốt nhục các đông tây
Sáu hào loạn động, cốt nhục trong nhà mỗi
người một nơi.
Quẻ lục xung hay
sáu hào loạn động, chủ cha mẹ xung tán, anh em, vợ chồng, những người cốt nhục
tự lo trốn tránh, không thể tụ tại một nơi.
24. 福 臨 鬼 位 刑 冲 帶 煞 則 官 兵 不 道
Phúc
lâm Quỷ vị hình xung đới sát, tắc quan binh bất đạo
Phúc lâm Quan Quỷ lại hình xung đới sát,
thì quan binh vô đạo.
Tử Tôn động vốn
là điềm tốt, nếu bị hình hại, gặp Bạch Hổ, Đằng Xà lại biến thành Quan Quỷ tất
quan binh thừa loạn mà cướp bóc.
25. 官 變 兄 h爻 剋 合 傷 財 必 妻 妾 遭
淫
Quan
biến Huynh hào khắc hợp thương Tài, tất thê thiếp tao dâm
Quan
biến Huynh khắc hợp với hào Tài thì
thê thiếp bị dâm ô.
Quan động hình
khắc Thế, hợp với hào Tài thì thân bị bắt, vợ bị dâm ô. Nếu không thương Thế mà
chỉ hợp với hào Tài thì thân tuy vô sự nhưng vợ bị nhục. Nếu lại hóa Huynh thì
bị dâm ô mà khó trở về.
26. 妻 k去 生 扶 只 為 貪 財 翻 作 禍
Thê
khứ sinh phù, chỉ vi tham tài phiên tác họa
Nếu Tài đi sinh phò, thì chỉ vì tham tiền
mà sinh họa.
Quỷ động thì
mừng nhất là bị suy tuyệt. Nếu được Tài động đi sinh phò thì vì tham tiền mà
sinh họa. Thế thì lấy mình mà nói, Ứng thì lấy người mà nói.
27. 子 來 冲 動 佳 人 而 哭 惹 成 災
Tử
lai xung động, giai nhân nhi khốc nhạ thành tai.
Tử mà xung động, nhân vì con khóc mà thành
họa.
Quỷ yên tĩnh là
rất tốt, nếu bị Tử Tôn xung động, tất vì tiếng khóc của trẻ con nên giặc biết
mà bị hại. Phúc vượng mà quan suy thì chẳng hại gì.
28. 得 值 六 親 生 旺 雖 險 何 妨
如 臨 四 絕 刑 傷 逢 屯 即 死
Đắc
trị Lục thân sinh vượng, tuy hiểm hà phương.
Như lâm Tứ tuyệt hình thương, phùng truân tức tử.
Được ở Lục thân mà sinh vượng, gặp hiểm
cũng chẳng hại gì,
Nếu ở Tứ Tuyệt bị hình thương, gặp hại
tất chết.
Dụng thần bị khắc tất có tai ương. Nếu
hào bị khắc đó mà sinh vượng thì không đến nỗi hại mệnh. Chỉ sợ hào mày lâm
Tuyệt địa, mà suy nhược tất táng mệnh.
29. 世 遇 亂 離 既 已 逐 爻 而 决 矣
時 遭 患 難 亦 當 隨 象 以 推 之
Thế
ngộ loạn li, ký dĩ trục hào nhi quyết hỹ
Thời tao hoạn nạn, diệc đương tùy tượng dĩ suy chi.
Đời gặp loạn li, đã dựa vào từng hào để
quyết đoán,
Lúc gặp hoạn nạn, cũng nên tùy quẻ mà suy
đoán.
Ở yên không việc
gì, có gì mà bói. Nếu bị hình phạt, bị tội giam giữ, hoặc bị quan phủ tróc nã,
người thù tìm hại, hoặc gặp họa không biết dựa vào đâu, tai ưong đột xuất. Nếu
không tránh tất sẽ bị hại. Vì thế không thể không xem bói mà tránh. Đại khái
cũng tương tự với thiên Tị Loạn này. Cho nên chép các câu này phụ vào.
30. 最 怕 官 爻 剋 世 則 必 難 迴 避
Tối
phạ Quan hào khắc Thế, tắc tất nan hồi tị
Sợ nhất là hào Quan khắc Thế , tất khó
tránh được.
Phàm xem tránh họa, thoát họa mà gặp Quỷ động khắc
thương Thế đều không tránh được. Quan trì Thế cũng vậy. Nếu Quỷ lâm Không Tuyệt
hoặc không động, như Phục dưới hào Thế thì trước mắt chẳng hại, nhưng sau đến
khi Quỷ được vượng sẽ phát tác.
31. 太 宜 福 德 臨 身 則 終 可 逃 生
Thái nghi Phúc Đức lâm Thân, tắc chung khả đào sinh
Hợp nhất là Phúc Đức lâm Thân, cuối cùng có thể sống được.
Tử Tôn có thể chế được Quan Quỷ, là thần giải ách. Nếu Tử Tôn lâm Thân
Thế hoặc ở bàng hào phát động, hoặc là Nguyệt kiến Nhật thần, tuy gặp Quan Quỷ
cũng chẳng hại gì, chỉ sợ Không vong, Mộ Tuyệt tất bị chế.
32. 官 化
父 冲 必 有 文 且 挨 捕
Quan hóa Phụ xung, tất hữu văn thư ai bổ
Quan hóa Phụ xung, tất có văn thư đi bắt.
Vượng hào phát dộng, tên đã vào
danh sách, hoặc quan đã phê ở ngoài. Hào quỷ cũng động, việc đã khẩn cấp. Phụ
hóa Quan, Quan hóa Phụ hình khắc hào Thế, tất đã khiến công sai đi bắt.
33. 日 冲
官 散 必 有 多 親 友 維 持
Nhật xung Quan tán, tất đa thân hữu duy
trì
Nhật xung Quan tán tất níu
được nhiều thân hữu.
Quan động vốn khó tránh thoát, nếu được Nhật thần động xung tán khắc chế
Quan Quỷ, tất có tâm phúc thân hữu giửi thoát lo liệu cho ta.
34. 鬼 伏
而 兄 弟 冲 提 禍 由 骨 肉
Quỷ phục nhi Huynh Đệ xung đề, họa do cốt nhục
Quỷ phục mà được Huynh Đệ xung
khởi, họa do cốt nhục sinh ra.
Quan phục mà được Huynh Đệ xung, Phi thần đề bạt, hoặc Huynh Đệ xung động
Quan Quỷ đến hình khắc, là do cốt nhục trong nhà mà tìm ra tung tích, sợ khó
tránh được.
35. 官 靜
而 旁 爻 刑 剋 事 出 吏 且
Quan tĩnh nhi bàng hào hình khắc, sự xuất lại thư
Quan hào tĩnh mà bàng hào hình
khắc, việc do thư lại.
Quan Quỷ tĩnh mà trong quẻ động hào hình khắc Thế hào là bọn dưới quyền
của quan, hoặc kẻ thù hãm hại. Nếu hóa thành hào Huynh là muốn cướp của cải.
36. 應 若
遭 傷 當 累 眾
Ứng nhược tao thương đương lụy chúng
Ứng nếu bị hại thì liên hệ đến
người khác.
Quan Quỷ thương khắc hào Ứng, tất liên quan đến người khác. Nguyệt kiến,
Nhật thần thương khắc Ứng cũng thế.
37. 妻 如
受 剋 定 傷 財
Thê như thụ khắc định thương tài
Thê Tài như bị khắc thì hại
tiền bạc.
Như gặp Huynh động tất chủ phá hao tiền bạc.
38. 偏 喜
六 爻 安 靜
Thiên hỉ lục hào an tĩnh
Riêng mừng sáu hào an tĩnh.
Sáu hào bất động, Quan hào không bị xung thì có thể tránh hoạn nạn. Lại
nên trong quẻ không có hào Quan, không Quan Quỷ tất chủ việc bình an, Quan Quỷ
gặp Không vong cũng thế.
39. 又 宜
一 卦 無 官
Hựu nghi nhất quái
vô Quan
Lại nên một quẻ không hào Quan
Không có hào Quan thì
quan coi việc không có tất bình an, Quan lâm Không cũng tốt.
40. 或 身
世 之 逢 空
Hoặc Thân Thế chi phùng Không
Hoặc Thế Thân lâm Không.
Thế Thân gặp Không vong, trăm việc đều tiêu tan. Tuy gặp Quỷ động cũng vô
sự.
41. 或 用
神 之 得 地
Hoặc Dụng thần chi đắc địa
Hoặc Dụng thần được đắc địa.
Dụng thần vượng tướng mà không bị hình xung khắc hại, không hóa Tử Mộ
Không Tuyệt, đều là điềm tốt.
42. 天
l來 大 事 也 無 妨
海 樣 深 仇 何 足 慮
Thiên lai đại sự dã vô phương
Hải dạng thâm cừu hà túc lự
Việc lớn như trời cũng chẳng
hại
Thâm cừu như biển cũng khôn lo.
Hai câu này tóm lại ý của 4 câu trước. Tổng kết mà nói trong quẻ có một
cát thần, chắc chắn không việc gì.
Việc có trăm đường, lý chỉ có một. Biết suy xét kỹ càng mà có thể hòa hợp
thông suốt, theo lí mà suy thì tất đạt
được thần diệu.
Nhận xét
Đăng nhận xét