TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - Mục Lục
增補卜筮正宗
TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG
林屋山人王洪緒輯
Lâm Ốc Sơn Nhân Vương Hồng Tự Biên Tập
Trong đó
Phần Cơ Bản - Thập Bát Luận – Luận về sai lầm ở các sách Bốc
Dịch
Có sự tham đính của
Nhâm Tí Cử nhân Nhu Tuân Thì – Ngô Tường Chung – Anh Tử Xán
Phần Phú đoán
Do Lưu Bá Ôn soạnVương Hồng Tự chú thích
Dịch và Chú thích tiếng Việt Vĩnh Cao
Mục Lục :
Hidden Content
- Lời nói đầu
- Lời tựa
- Bốc phệ chính tông phàm lệ
- Bốc phệ cách ngôn
I : ỨNG DỤNG NGŨ HÀNH TRONG BỐC PHỆ
Chương 1 : Phần cơ bản
Chương 2 : Ca quyết
Chương 3 : Thông huyền phú và Túy kim phú
Chương 4 : Quẻ với các hào cùng Phi thần Phục thần và Quái thần
Chương 5 : Thập bát luận
Chương 6 : Tổng đoán Hòng kim sách trực giải Thiên Kim phú
Chương 7 : Thiên thời
Chương 8 : Niên thời
Chương 9 : Thiên mệnh
Chương 10 : Cầu danh
Chương 11 : Hỉ soạn
Chương 12 : Cầu tài
Chương 13 : Thất thoát
Chương 14 : Xuất hành
Chương 15 : Cầu sư
Chương 16 : Học quán
Chương 17 : Hôn nhân
Chương 18 : Sản dục
Chương 19 : Tiến nhân khẩu
Chương 20 : Gia trạch
Chương 21 : Châu thuyền
Chương 22 : Xướng gia
Chương 23 : Bệnh tật
Chương 24 : Bệnh thể
Chương 25 : Y dược
Chương 26 : Hành nhân
Chương 27 : Từ tụng
Chương 28 : Quỷ thần
Chương 29 : Chủng tác
Chương 30 : Lục súc
Chương 31 : Tàm tang
Chương 32 : Quốc triều
Chương 33 : Chinh chiến
Chương 34 : Tị loạn
Chương 35 : Đào vong
II : PHẦN ỨNG DỤNG
III : PHỤ LỤC
Chương 1 : Luận về sai lầm của các sách về bốc dịch
Chương 2 : Hà tri chương
Chương 3 : Yếu quyết về giao tiền
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông được Vương Duy Đức tự Hồng Tự
người ở Tây Sơn thuộc Động Đình viết. Gọi là Tăng bổ ( bổ túc thêm) vì Bốc Dịch
là môn học tối cổ, được lưu truyền từ xưa. Những phần ghi chép trong sách đều
chọn lấy từ những tư liệu truyền đời, chỉ có những phần đính chính, giải thích
là do tác giả sáng tác do hiểu biết và vận dụng về Dịch học của mình. Vương Duy
Đức là người đầu đời nhà Thanh, là người nghiên cứu Dịch từ nhỏ, công danh trắc
trở, gia nghiệp bị phá bại khiến phải hành nghề bói toán để độ nhật. Cuối đời
gom lại những điều hiểu biết cùng kinh nghiệm hành nghề của mình để viết thành
sách để lại cho người sau. Theo ông cái học của mình có được nhờ một phần
nghiên cứu từ nhỏ lại trải qua nhiều năm, một phần do Dương Quảng Hàm tiên sinh
truyền lại. Nhưng phần lớn nội dung của sách là chú giải, bài bác những điều do
tác giả hiểu đối với những tư liệu truyền lại từ xưa.
Trong sách theo tác giả chỉ có phần Thập Bát Luận trong quyển 3 và phần Thập
Bát Vấn Đáp trong quyển 13 và 14 là do mình viết cùng những kinh nghiệm được thầy
truyền lại, còn lại là những phần đính chính, giải thích, cùng sưu tầm những tư
liệu cổ. Ông sống vào đầu đời nhà Thanh, nhưng trước đó vào đời Minh, môn Bốc Dịch
khá phổ biến, được nhiều người nghiên cứu, nhiều tác phẩm được khắc in. Theo
tác giả chính phần Hoàng Kim Sách mà tác giả ra công chú giải được Lưu Bá Ôn,
người đầu đời Minh giỏi về thuật số đã viết ra. Cách vận dụng Ngũ hành trong Dịch
cùng lượng định chính phụ của các hào trong quẻ có nhiều quan điểm khác nhau.
Nhờ hành nghề lâu năm, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm nên trong sách ông bài
bác rất nhiều quan điểm cổ cùng quan điểm nêu ra trong một số sách lưu hành
đương thời, cốt để đính chính cho hợp với những Nguyên tắc đã được chuẩn định
đói với môn học này. Môn Bói Dịch này vốn đã có chuyển biến sâu rộng từ thời Quỷ
Cốc Tiên Sinh, một nhân vật sống vào đời Chu, khi ông đổi từ phép xem dùng cỏ
Thi, qua cách dùng bằng ba đồng tiền, khiến môn học này được phổ biến rộng rãi,
không còn riêng tư cho giới trong coi bói toán của triều đình. Nhờ vậy mà từ đó
môn học được xiển dương.
Tuy nhiên trải qua mấy ngàn năm, người nghiên cứu quá nhiều, khiến việc hiểu biết
vận dụng có nhiều sai biệt. Rồi từ đó tạo thành nhiều môn phái với những kiến
giải riêng rẽ. Tuy nhiên còn tuỳ thuộc vào thiên tư nên không phải người nào
cũng đạt đến thâm sâu, áo diệu của Dịch, dù lắm người nổi tiếng lúc hành nghề
Bói Dịch nhưng kiến giải cũng không được sâu sắc, nên những điều truyền thụ cho
người sau cũng không đạt được lý lẽ chính xác. Tác giả vốn là người nghiên cứu,
bất dắc dĩ mà hành nghề độ nhật, nhưng nhờ đó mà thu thập được nhiều kinh nghiệm,
nên cố gắng đính chính giải thích theo hiểu biết của mình. Và chính vì thế mà
trong sách khá đầy đủ những câu Phú truyền tụng từ xưa, từ những câu mang tính
học thuật cho đến những câu hết sức bình dân áp dụng cho một số trường hợp lúc
hành nghề của các thầy bói.
Khi đem khắc in, nội dung của sách còn có sự góp ý của những nhà khoa bảng cũng
là những học giả đương thời là Nhu Tôn Thì, Ngô Tường Chung và Anh Tử Xán. Sách
được phân thành 14 quyển, mỗi quyển gồm nhiều phần khác nhau nhưng không chia
thành chương. Từ quyển 4 đến quyển 12 đều là những câu phú cổ về tạp sự với chú
thích rõ ràng. Phần cơ bản về Dịch học và Ngũ hành được đề cập trong quyển 1 và
2 lại khá đơn giản.
Nội dung của sách nếu đọc kỹ sẽ thấy không chỉ do một người viết, mà có những
phần phụ vào do người đương thời hoặc người sống sau tác giả, vì những cách
hành văn nhiều khi viết quá đơn giản không phải là người có học cao, cùng những
luận giải không được sâu sắc theo tình thần chú thích Hoàng Kim Sách, là phần
Phú chính yếu chắc chắn do tác giả viết. Vả lại ôm đồm quá nhiều phần về tạp sự
nên việc chú thích khó tránh được nhầm lẫn và võ đoán, khiến người đọc khó nắm
được phần chính phụ để áp dụng cho các quẻ Dịch. Ngoài ra phân cơ bản quá ngắn
gọn, mà phần lí luận lại được nâng cao, nên sách thích hợp cho những người đã từng
có nghiên cứu về Bốc Dịch. Nhưng đây là một cuốn sách quan trọng trong việc
nghiên cứu và học hỏi về Bốc Dịch, kẻ hậu học muốn tiến xa không thể không đọc
sách này.
Sách được lưu truyền rộng rãi trong giới nghiên cưú Dịch học ở nước ta vào thời
Nhà Nguyễn. Nhưng trong bước đầu học Dich người ta phải kết hợp đọc thêm Tăng
San Bốc Dịch của Dã Hạc Lão Nhân mà nội dung về những lý thuết cơ bản được
trình bày cặn kẻ hơn. Hai cuốn Bốc Phệ Chính Tông và Tăng San Bốc Dịch vì thế
được phổ biến rộng rãi ở Trung Hoa và nước ta. Cũng như Tăng San Bốc Dịch, Bốc
Phệ Chính Tông được khắc in nhiều lần, và những lần về sau cũng có đôi chỗ in
nhầm, nhưng không đáng kể. Bốc Phệ Chính Tông có quan điểm với một quẻ Dịch có
thể đoán định được nhiều việc, và đây cũng là điểm tương phản với Tăng San Bốc
Dịch, nhưng lại được người bói Dịch áp dụng mà có kết quả chính xác.
Sách này trước đây đã được dịch vào thập niên 70 của thế kỷ trước, nhưng chỉ dịch
những phần chính yếu, rồi chép tay cho các thân hữu nghiên cứu. Nay có cơ hội
nên dịch trọn bộ các phần, kể những phần không được lí luận thâm sâu, cốt sao
lưu giữ được những tư liệu truyền lại từ xưa. Ngoài ra còn đính kèm chữ Hán phần
nội dung chính yếu, để người đọc tiện tham khảo. Tuy nhiên vì nguyên bản được sắp
xếp không được rành mạch theo tinh thần hiện đại, nên khi dịch sách dịch giả đã
phân thành các chương khác nhau, nhưng chương có nội dung gần gũi thì đặt sát
liền nhau. Phân Đính chính sai lầm của các sách đương thời được tách riêng chuyển
vào phần Phụ Lục. Ngoài ra những phần tạp thư như Hà Tri Chương, Yêu Nghiệt
Phú... trình độ không cao nên cũng chuyển vào Phụ Lục. Riêng về phần Tân Tăng
Gia Trạch tuy khá lộn xộn và không sâu sắc lại chuyển vào sau phần Gia Trạch
cho tiện tra cứu. Ngoài phần chú thích của tác giả, dịch giả cũng có kèm theo
những kiến giải riêng tư ở phần chú thích cuối trang.
Với cuốn sách quá nhiều phần nghiên cứu khác nhau nên khó tránh được lầm lẫn
khi dịch. Nếu thân hữu cũng như người đọc các nơi có điểm gì chê trách hoặc góp
ý là điều may mắn để Dịch giả sửa đổi trong những lần in sau.
LỜI TỰA
Từ xưa nói về Bốc Phệ bảo chẳng ai thần diệu hơn Tử Dương[1] trong Tả thị Xuân
Thu, Chu tử[2] bảo thời Tam đại có chức Thái Bốc, Thái Phệ, có quan chuyên
trông coi về Bốc Phệ nên thuật thật tinh vi mà ứng nghiệm như thần. Đời sau bỏ
chức quan này, mà sách chiêm nghiệm về Bốc Phệ cũng không truyền, nên ít người
thâu rõ và thần diệu. Nhưng gần đây như các thiên trong Hoàng Kim Sách mới đạt
được cùng cực áo diệu của âm dương, huyền cơ của biến hoá. Tuy nhiên giảng giải
cũng chưa đến cội nguồn, người xem cũng không khỏi được sai lầm, nên không truyền
được tinh tuý của cổ nhân. Nếu có người học rộng nghĩ sâu, thông tuệ mà trao
sách này thì có thể xiển dương được những vi diệu kỳ ảo.
Vương Sơn nhân[3] người Lâm ốc buông rèm ở Ngô quận đoán Dịch, ở sát mé đông
nhà ta. Có điều gì ưu nghi liền đến gỏ cửa, thật ứng nghiệm chẳng sai, như ánh
đèn soi sáng. Bao nhiêu người xa gần đều ca ngợi như thần. Nhưng Sơn nhân từ chối
không nhận tiếng khen, mà bảo điều tôi nhận được là sách chiêm nghiệm của thầy
tôi Dương Quảng Hàm Tiên sinh truyền cho, mà những sách khác chưa bằng được. Mấy
năm gần đây Sơn nhân càng tiến bộ, rồi chắp nhặt viết thành pho sách cho khắc
in. Tôi viết tự rằng: “hánh hiền nói lý mà không nói số, nhưng Thái dịch là
sách bốc phệ thiết lập hung cát hối lẫn, có thể biết trước việc. Lấy số để lường
rấ chính xác, lấy lý mà đoán. Nay sách của Sơn nhân đầy đủ tinh vi diệu nghiệm,
kể ra cũng độc nhất vô nhị, mà nếu không quán triệt được lẽ sinh khắc ngũ hành,
biến hoá của âm dương thì sao gọi là số học được. Cho nên sách này là sách nói
về số mà thực là sách nói về lý. Do Sơn nhân nhờ nghiên cứu thâm sâu nên rõ được
thần diệu của Bốc Dịch ngày xưa, không thì làm sao mà xiển dương được.
Khang Hy năm Kỷ Sửu tháng 10 mùa đông.
Trương Cảnh Tùng ở Ngô Quận viết tại Dung Giang Thảo đường.
BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG
PHÀM LỆ
1. Bốc Phệ dẫn dắt kẻ ngu muội, giải toả nỗi ngờ vực, dạy người trốn hung tìm
cát. Sáu hào đã lập, biến hoá đã bày, lý lẽ hết sức thích đáng không thay đổi.
Người đời vì không tiêu hoá được, không thể cứu xét sâu xa., nên thường mê hoặc
dân chúng, kể thật đáng buồn. Sách này lấy chính lý cội nguồn, không dám nói
càng, nói phỏng mà làm người sau sai nhầm. Vì thế mà gọi là Chính Tông.
2. Từ Quỷ Cốc[4] dùng tiền thay thế cho cỏ thi[5] khiến đường lối của Dịch biến
đổi. Những điểm trọng yếu là Dụng Thần, Nguyên thần, Kỵ thần, Cừu thần, Phi Phục
thần, Tiến Thoái thần, Phàn ngâm, Phục ngâm cùng Tuần không, Nguyệt phá… đều là
những cương lĩnh ở trong Quẻ, nên không thể sơ suất, cẩu thả. Vì thế mới qui định
thành Thập Bát Luận, mà không gì vượt ra ngoài mười tám điều đó. Học giả nên
tham khảo kỹ càng..
3. Từ xưa sách luận về Phi thần, Phục thần có nói Càn Khôn qua lại trao đổi . Dịch
Lâm Bổ Di nói mọi hào đều có Phục có Phi là sai lầm, rồi noi theo sai lầm thành
nếp mà không xem xét. Trong sách này ta phân ra từng quẻ định rõ Phi, Phục để
người học liếc mắt là có thể hiểu.
4. Trong Bốc Dịch phần như Thông Huyền Phú đều được Dịch Lâm Bổ Di, Dịch Mạo,
Tăng San Bốc Dịch ghi chép . Tuy cũng được nêu những điểm tinh tuý, những điều
khác biệt. Tuy không thiên kiến nhưng có nhiều mâu thuẫn khiên người học không
được hài lòng. Chỉ có Hoàng Kim Sách được Lưu Thành Ý[6] viết xiển dương được
lý thâm sâu của Tiên Thiên làm cầu dẫn lối cho kẻ hậu học. Mà thiên Thiên Kim
Phú Tổng Luận bao hàm thâm sâu, tiếc rằng chú thích của Diêu Tế Long rất nhiều
lầm lẫn, ngược lại với ý nghĩa chính xác. Ta phải khổ công ra sức đính chính. Bảo
ta có tội ta cũng chịu vậy thôi.
5. Ta từ nhỏ đã nghiên cứu Dịch lý được nhiều năm, về sau được gặp Dương Quảng
Hàm Tiên sinh ở Tân An, nhờ đó mà được truyền sở học. Phần Thập Bát Vấn ở quyển
thứ mười ba và mười bốn[7] của sách này đều được thầy ta truyền cùng chiêm nghiệm
của ta. Người học đọc kỹ mới thể biết cách chính yếu khai mở những điều chưa
rõ. Rồi cùng kết hợp với Thập Bát Luận và những điểm luận về sai lầm ở các
sách, thì những lẽ thâm sâu ảo diệu trong trời đất đều được bày tỏ.
6. Ta buông rèm nơi chốn thị tứ, qua lại nhiều người, nghĩ đến ngày sau trở về
lại núi cũ kết thảo am nơi núi rừng, từ tạ với người đời, nên viết thành sách cất
giữ ở thạch thất, không muốn giao tiếp nữa. Nhưng chắc chắn ghi chép nông cạn
này làm sao khỏi được chê bai cũng những người sáng suốt, giỏi luận bàn. Nhưng
dù có tránh được, thì quân tử cao minh ở khắp nơi nếu có lòng chỉ bảo thì thật
hết sức may mắn cho ta,
[1]Thần tiên ngày xưa thường lấy Tử Dương làm hiệu. Lý Bát Bách đời Chu Mục
Vương xưng hiệu là Tử Dương ChânQuân. Đời Hán có Chu Nghĩa Sơn, đời Tống có
Trương Bá Đoan đều xưng Tử Dương Chân Nhân. Ở đây chắc chỉ Lý Bát Bách.
[2]Tức Chu Hi một học giả đờiTống, chú thích nhiều kinh sách.
[3]Chỉ tác giả của sách là Vương Hồng Tự.
[4]Theo chú thích ở một số sách Quỉ Cốc Tử là Vương Hủ sống vào thời nhà Chu.
[5]Bói dịch thời cổ dùng cỏ thi, đên Quỉ Cốc Tử thay báng 3 đồng tiền, dùng sấp
ngữa để định âm dương (xem phần Phú Lục)
[6]Tức Lưu Cơ tự Bá Ôn, giỏi văn học, thiên văn, binh pháp>>> theo
giúp Minh Thái Tổ thống nhất thiên hạ, được phong tước Thành Ý Bá
[7]Khi dịch đã chuyển vào phần II tại chương Vấn Đáp ở cuối sách.
BỐC PHỆ CÁCH NGÔN
- Bói là đạo thông vởi thần minh để định hung cát, quyết ưu nghi, biện âm dương
ở hào tượng, xét huyền cơ ở biến hoá. Ý nghĩa hết sức tinh vi mà thông suốt lại
vô cùng. Kinh có bảo: " Đạo chí thành thì có thể biết trước", cho nên
người đi xem bói không thành tâm thì chẳng cảm được, mà người thầy vọng đoán
thì chẳng được linh. Đó là điều cần phải luận.
- Người đời có việc cần thì bói nhưng chữ "Thành" còn chưa rõ. Có kẻ
uống rượu, ăn chay mặn hỗn tạp, tà dâm không trong sạch, thì lúc lâm thời muốn
cảm với thần minh thì hỏi làm sao mà cảm được. Lại có kẻ giàu sang, xem nhẹ
chuyện bói toán, cậy nhờ thân bằng quyến hữu, hoặc uỷ cho nô bộc đi xem hộ, mà
người này lòng chẳng thành, nên bói chẳng ứng, quẻ chẳng linh rồi kết tội cho
người thầy, mà không biết lòng thành chẳng đạt. Đó là lỗi của người đi coi.
- Còn những thầy xem bói mà tâm hiếu lợi, dùng bói để đánh lừa. Tức như người đến
xem về bệnh, việc chẳng quan trọng lắm, mà tán tận lương tâm, cấu kết với tăng
ni đạo sĩ, bày đặt lễ lạc này nọ,vọng đoán mà cầu lợi. Lại nhìn người đến xem
giàu nghèo để đoán nhiều hay ít. Đoán bậy mà dẫn người xem đến chùa nào đó, đạo
quan nào đó, lễ lượt bao nhiêu lần, hoặc tới am miếu nào đó cầu kinh bao nhiêu
ngày. Người xem hoang mang việc gì cũng theo. Với người giàu có thì dễ, còn người
nghèo thì phải cầm cố áo quần, bán đồ đạt mà mang nợ nần. Nếu được lành thì cho
là nhờ đầy đủ lễ, mà chết thì cho là tụng không đủ kinh... Nhưng chết rồi thì
có ích gì. Đó là cái hại của tăng đạo. Lại có người mới học y, mạch lý chưa
thông, lại giới thiệu người bói về y, mà kẻ này sở đắc chỉ là các tiết lễ cúng
cấp, thì người bệnh bị cái hại chết người. Đó là cái hại về thầy thuốc. Hai việc
này nơi Kinh thành này chỗ nào cũng có.
Ta buông rèm xem bói cốt để trừ những mê hoặc đó. Theo quẻ mà suy đoán, chẳng
gì không ứng, mong dựa vào tinh về việc học không dám vọng đoán. Rồi được ít sở
đắc, góp nhặt mà soạn cuốn Bốc Phệ Chánh Tông, mong được các bậc cao minh chỉ
giáo. Chỉ sợ người đến xem không thành tâm mà quẻ xem chẳng ứng, hoặc người
đoán chiêm nghiệm lầm nên không linh ứng. Đó là những điều cần thưa trước, mong
người đọc lượng thứ cho.
Vương Hồng Tự
ở Tây Sơn, Động Đình nước Ngô ngày trước.
Nhận xét
Đăng nhận xét