TĂNG BỔ BỐC PHỆ CHÍNH TÔNG - PHẦN II PHẦN ÁP DỤNG
PHẦN II
PHẦN ÁP DỤNG
十八問答附占驗
MƯỜI TÁM CÂU HỎI ĐÁP VÀ CHIÊM NGHIỆM
CÂU HỎI THỨ NHẤT
- Hỏi: Tam Truyền (Năm, Tháng và
Ngày) khắc Dụng Thần, có một hào động sinh, một hào động khắc cũng gọi là “tham
sinh quên khắc” phải không ?
- Đáp : Ít cố nhiên không thể chống
được đông. Tức như một hào sinh, một hào khắc lại tự hoá khắc đã là không
nên. Huống gì Tam truyền lại khắc phải
không.
- Lại hỏi : Nguyệt khắc Nhật sinh,
Nhật khắc Nguyệt sinh thì như thế nào ?
- Đáp: Ngang nhau. Lại phải xem
nếu có một hào sinh thì thành sinh, có một hào khắc thì thành khắc.
Ví dụ: Ngày Bính Thân tháng Thìn, xem em bị bệnh đã lâm nguy, được quẻ Ký Tế
biến Cách

Đoán rằng: Trong quẻ này Hợi Thuỷ Huynh Đệ là Dụng Thần, tháng Thìn khắc
mà ngày Thân sinh, lại được hào Thân Kim động sinh. Lâm nguy được cứu. Quả
trong ngày này giờ Dậu, được danh y cứu sống. Ngày Hợi thì hoàn toàn lành bệnh[1].
@ Ngày Đinh Mùi tháng Ngọ xem em bị
kiện tốt xấu thế nào, được quẻ Khổn biến Hằng

Đoán rằng: Dậu kim Huynh Đệ là Dụng Thần bị tháng Ngọ khắc, ngày Mùi
sinh, xem ra có thể địch được, nhưng Ngọ hoả là Nguyệt kiến động khắc nên là
tượng đại hung. Hỏi : Hung lúc nào ? Đáp: Năm nay là Thìn, Thái Tuế tương hợp
với Huynh Đệ, thì vô hại. Quẻ có Huynh Đệ hoá Thoái Thần tại Thân, sợ nguy ở
năm Ngọ tháng Thân.
Quả
đến năm Ngọ tháng Thân bị trọng tội.
@ Ngày Mậu Thìn tháng Ngọ xem em
gái sinh sản hung cát thế nào, được quẻ Tấn

Đoán rằng: Dậu
kim Huynh Đệ là Dụng Thần bị Nguyệt khắc, được Nhật sinh nên không đáng ngại.
Ngày mai giờ Mão tất sinh, mẹ con bình an. Ứng giờ Mão vì Dậu Kim hợp với ngày
Thìn. Hoàng Kim Sách có câu:” Nếu gặp hợp trú tất đợi xung khai[2].
Đấy là Nguyệt khắc Nhật sinh mà chẳng có gì xấu.
@ Ngày Ất
Mùi tháng Tị, một người tự xem bệnh, được quẻ Đại Quá biến Đỉnh
Đoán rằng: Thế hào Hợi thuỷ là Dụng Thần, bị Mùi thổ động khắc, được Dậu
kim động sinh. Đây là “tham sinh vong khắc” , hoá hung thành cát. Nhưng không
nên Nhật thần lại khắc, rồi bị Nguyệt
kiến
xung. Tuy được Nguyên thần phát động sinh
nhưng như cây không có rễ nên sinh cũng không được.
Quả
chết vào này Mão, ứng ngày xung Nguyên thần, để Kỵ thần cùng hợp lại mà khắc.[3]
@
Ngày Mậu Tí tháng Thân xem đất mộ, được quẻ Bát.

Đoán rằng: Nhật thần là Tử Tôn trì Thế được Nguyệt kiến sinh, Thanh Long hí Thuỷ [4].
Thuỷ tất từ tả vây bọc Huyệt, ắt gần sông, nếu không sẽ là Trường lưu Thuỷ đến
Đường. Bạch Hổ ở Mão mộc, Tí sinh Mão Dần nên lâm Tài chẳng có gì trở
ngại. Ứng là triều sơn, thuộc Hoả bị Thế khắc
nên triều sơn không cao, trước Thế là Tuất thổ là đối án, Thổ khắc Thế
nên đối án hơi cao.
Người xem nói: Nhất nhất đều y như vậy.
Táng chưa đầy ba năm, hai con đều thi đỗ.
CÂU HỎI THỨ HAI
- Hỏi: Thế nào là Hồi đầu khắc, khắc có cát có hung phải không ?
- Đáp: Thổ hào động mà biến thành Mộc ; Mộc hào động mà biến thành Kim;
Kim hào động mà biến thành Hoả; Hoả hào động mà biến hành Thuỷ; Thuỷ hào động
mà biến thành Thổ. Đó là hào biến hồi đầu khắc.
Quẻ Càn, đoài biến thành Li; quẻ Li biến thành Khảm; quẻ Khảm biến thành
Cấn, Khôn; quẻ Cấn, Khôn biến thành
Chấn, Tồn; quẻ Chấn, Tốn biến thành Càn, Đoài. Đó là quẻ biến trhành hồi đầu
khắc. Phàm gặp Hồi đầu khắc là khắc đến tận cùng. Nguyên thần, Dụng Thần gặp
tất hung; Kỵ thần, Cừu thần gặp, ngược
lại là tốt.
Ví dụ: @ Ngày Quí Hợi tháng Mão xem
về gia trạch, mọi người trong nhà có
bình an không. Được quẻ Nhu biến Càn.

Đoán rằng: Thân kim Tử Tôn trì Thế
hoá Ngọ hoả hồi đầu khắc, đấy là tự thân cùng con cháu chịu khắc. Tí thuyt là Tìa
hoá Tuất thổ hồi đầu khắc , mà Tài là thê thiếp, nô bộc. Thế là quẻ mà cả nhà
bị khắc. Về sau đến tháng Ngọ hoả khắc Thế trợ Thổ khắc Tài, mà Tài bị Nguyệt phá. Cả nhà mấy
người bị cháy nhà mà chết.
@ Ngày Tân Dậu tháng Dần, xem mở tiệm bán được quẻ Cấn biến Minh Di.
Đoán rằng: Thế lâm Dần mộc được quyền[5],
lúc này khai trương có thể được, chỉ ngại Nhật thần khắc Thế, mà Thế hoá hồi
đầu khắc. Quỷ lâm Thế nênphòng tật bệnh. Đến tháng sáu Thế nhập Mộ, lúc đó cần
đề phòng.
Quả đến tháng sáu bị bệnh, đến tháng tám của cải trong tiệm bị kế toán
trộm sạch phải kêu lên quan.
@
Ngày Mậu Ngọ tháng Thân, một người đến
xem vì bệnh đã lâu hỏi có qua khỏi năm này không. Được quẻ Độn biến Cấu.
Đoán rằng: Thế hào Ngọ hoả lâm Nhật thần
có thể gọi là vượng tướng. Nhưng
không nên bị Hợi thuỷ được Nguyệt kiến sinh trợ để hoá hồi đầu khắc. Người này
đến tháng Hợi ngày Tuất sẽ chết. Ứng với
tháng Hợi, vì hiện tại Ngọ hoả là Nhật thần nên chưa thể khắc được. Ngày Tuất
vì Ngọ hoả nhập Mộ tại Tuất.
@ Ngày Ất Mùi tháng Mão một người
xem mua hàng hoá, được quẻ Gia Nhân biến Tiểu Súc

Đoán rằng: Sửu thổ
Tài hào trì Thế bị tháng Mão khắc, ngày Mùi xung, ấy là Tán. Lại hoá Dần mộc hồi
đầu khắc. Không những chỉ Tài bị khắc mà Thế cũng bị hại. Về sau đến tháng Mùi,
Thế bị Nguyệt phá, cháy nhà bị thương mà chết.
@ Ngày
Bính Dần tháng Dậu xem ngày nào mưa, được quẻ Thăng biến Sư..
|
|
Đoán rằng: Hợi thuỷ
Phụ Mẫu là Dụng thần lâm Không, Dậu kim Quan Quỷ là Nguyên thân hoá Ngọ hoả hồi
đầu khắc, trong Tuần không thể mưa. Đến ngày Tí mưa được mấy hạt, ứng với Tí
xung Cừu thần Ngọ hoả. Mưa nhỏ vì Phụ lâm Không nên không có gốc.
@ Ngày Mậu Tuất tháng Mão, một người xem về việc
quan cho cha được quẻ Tuỵ biến Đồng Nhân.

Đoán rằng: Mùi thổ ở ngoại quái Phụ Mẫu là Dụng thần bị
Nguyệt kiến khắc, huống gì đang mùa xuân khí Thổ đang bại. Lại hợp thành Hợi –
Mão – Mùi Mộc cục khắc Phụ, toàn không có cứu trợ, chắc chắn bị trong tội.
Quả sau như lời
đoán.
@ Ngày Đinh Hợi tháng Tị, một người xem nô bộc
ngày nào trở về được quẻ Quải biến Lý.

Đoán rằng: Hợi thuỷ Tài hào là Dụng Thần, Hợi thuỷ tuy là Nhật thần, không
chỉ là bị Nguyệt phá mà còn quá nhiều hào Thổ động khắc. Ngạn ngữ có câu: “Song
quyền bất địch tứ thủ” (hai quyền khó địch bốn tay), không chỉ khó mong ngày về
mà còn phòng bất trắc giữa đường. Sau đến tháng Ngọ hoả vượng hợp với hào Mùi
thì bị hại giữa đường.
@ Ngày Bính Dần tháng Ngọ, một người tự xem bệnh
được quẻ Li biến Khảm
Đoán rằng : Li hoả
biến Khảm thuỷ là quẻ hoá hồi đầu khắc. Tị hoả là hào Thế hoá Tí thuỷ hồi đầu
khắc, gọi là quẻ Phản Ngâm. Nay đang tháng Ngọ, lúc hoả vượng Thế đợưc sinh phò
nên chẳng ngại. Đến mùa đông phải đề phòng.
Quả chết vào ngày
Đinh Hợi tháng Tuất. Ứng với Tuất lúc Thế
nhập Mộ, ngày Hợi là ngày khắc xung.

@ Ngày Kỷ
Dậu tháng Mão, một người xem đòi tiền nhà, được quẻ Khảm biến Khôn.

Đoán
rằng : Khảm thuỷ biến Khôn thổ là quẻ biến hồi đầu khắc. Thế hào tuy
được Nhật thần sinh, nhưng không nên có hai hào Thổ động thương khắc là rất hung.
Không những việc đòi tiền nhà là nhỏ, mà nên phòng hoạ bất trắc. Về sau vào
tháng Ngọ bị lật thuyền mà chết. Ứng với
tháng Ngọ vì Thìn, Tuất là thổ Quỷ ra khỏi mùa xuân nên tăng uy lực, mà Ngọ lại
xung Thế. Quẻ này xem tiền nhà mà ứng với
bản mệnh, thần đã báo trước hung sự. Xem việc này ứng việc kia, xem việc bình
thường mà ứng việc quan trọng.
@ Ngày
Mậu Thìn tháng Thân xem làm tường trình, được quẻ Trung Phu hoá Tổn.

Đoán rằng: Hào Ngũ Tị
hoả sinh Thế, hoá Tí hồi đầu khắc, không nên tường trình, Hỏi có hại gì
không. Ta bảo: Tị hoả tuy không thể
sinh, nhưng may trong quẻ không có hào động khắc Thế, nên chẳng lợi mà chẳng hại.
Sau quả tương trình
không được chuẩn thuận.
@ Ngày
Đinh Tị tháng Dần lo chức vị đến kỳ khen thưởng, được quẻ Lữ biến Minh Di.
Đoán
rằng: Tử Tôn trì Thế hoá hồi đầu khắc, chỉ ngại vì Thế ở hào này, mà Thế là
mình thì không nên bị khắc. Tuy được Kim
cục sinh phò, tuy không can gì, nhưng Quan phục nên khó vừa lòng.
Sau
quả bị cách chức.
CÂU
HỎI THỨ BA
Hỏi:
Sinh Dụng Thần là Nguyên thần, tuy vốn là cát, nhưng trong cát có hung phải
không ?
Đáp:
Nguyên thần động sinh Dụng Thần. Dụng Thần xuất hện vượng tướng thì tốt lại gấp
bội. Nếu Dụng Thần lâm Không, suy nhược
hoặc phục tàng không hiện, tất đợi Dụng Thần xuất Không được thời, điều mong cầu
sẽ ứng. Như Dụng Thần vượng tướng mà
Nguyên thần hưu tù không động, hoặc động mà biến khắc, biến Tuyệt Mộ, Nguyệt
phá, Nhật xung , hoặc có Cừu thần động khắc Nguyên thần, hoặc bị Nhật Nguyệt
tương xung hoặc hoá Thoái thần đều không thể sinh Dụng Thần, tất gốc rễ của Dụng
Thần bị tổn thương thì không những vô ích mà còn bị tổn hại nữa.
Ví
dụ:
Đoán
rằng: Thế hào Hợi thuỷ là phu tinh, nhập Mộ ở ngày Thìn, luận theo bệnh là “tuỳ
quỷ nhập mộ” (theo quỷ vào mồ), há chẳng phải không hung sao ?. May có Thân kim
là Nguyên thần động sinh Dụng thần lại hoá hồi đầu sinh Nguyên thần; Tuất thổ
ám động sinh trợ Nguyên thần tức gốc rễ của phu tinh ăn sâu vững chắc, chỉ hiềm
Hợi thuỷ lân Không nên không được sinh, tất đợi ngày Tị xung khởi hào Hợi tức
lành.
Quả
đến ngày Tị thì hoàn toàn lành bệnh.
@ Ngày
Giáp Dần tháng Mão, xem phong thuỷ được quẻ Khổn biến Tiết

Ta
nói: Xem mộ tổ tất có nguyên do, sau khi chôn có việc gì không hanh thông. Nay
vì việc gì mà hỏi, nói rõ tôi mới dám quyết đoán. Người xem bảo: Sau khi chôn bị
luận tội mà cho về, tuổi gần năm mươi mà chưa có con, vì thế mà bói xem mộ này
có gì trở ngại không.
Ta
nói : Lục hợp biến Lục hợp là phong tàng khí tụ, nhưng hiềm là Hợi thuỷ được
Thân kim sinh mà Thân bị Nhật thần xung. Thân là Nguyên thần của nguồn nước, vì
thế nguồn nước không tụ về thế thôi. Nếu
khiến nước rót về không chảy một bên thì đợi đến năm Tị sẽ lại ra làm quan, năm
Thân sinh con. Về sau quả nghiệm.
Ứng
với năm Tị là năm xung khởi Dụng thần, mà Thế ở Dần mộc động hoá Quan tinh Tị
hoả. Năm Thân sinh con vì Hợi thủ là Tử Tôn động hoá Thân kim hồi đầu sinh.
@
Ngày Mậu Tí tháng Sửu một người tự xem cận
bệnh được quẻ Đồng Nhân biến Lữ.
Đoán
rằng: Tự xem bệnh lấy Thế làm Dụng thần. Thế hào là Hợi thuỷ được ngày Tí củng, lại được Thân kim Nguyên
thần động sinh Thế, ấy là bệnh không chết. Nhưng hiềm Thân kim hoá thành Mùi thổ
bị Nguyệt phá, lâm Không, tất Nguyên thần không gốc. Trước mắt không có trở ngại,
nhưng sợ nguy vào mùa xuân. Đến ngày Lập xuân quả chết. Ứng vào tháng Giêng chết
vì Thân kim Nguyên thần bị Nguyệt phá. Mùa Xuân Mộc vượng, Mùi thổ bị khắc[7].

@
Ngày Ất Sửu tháng Dần, con xem bệnh của
cha, được quẻ Thăng biến Sư.

Đoán rằng: Hợi thủy là Phụ hào, tuy gặp Tuần Không, có Nguyên
thần là Dậu kim động sinh, có thể không trở ngại. Nhưng không nên Dậu kim hoá
ra Ngọ hoả hồi đầu khắc . Đấy là Nguyên thần bị thương, Dụng thần không gốc.
Người này quả chết ở ngày Mão giờ Mão ứng với ngày giờ Mão sinh trợ Ngọ hoả khắc
xung Nguyên thần.
CÂU
HỎI THỨ TƯ
Hỏi: Tam hợp bát quái tạo thành cục, đoán như thế nào ?
Đáp: Nguyên thần, Dụng Thần tạo thành cục thì cát, Cừu thần, Kỵ thần tạo
thành cục thì hung. Tạo thành cục là kết bè đảng với nhau. Trong quẻ ĐỘNG HÀO MỚI TẠO THÀNH ĐƯỢC. nhưng ba
hào đều phát động hợp thành Dụng Thần cục
tất có một hào là Dụng Thần; hợp thành Nguyên
thần cục, tất có một hào là Nguyên thần; hợp thành Cừu thần, Kỵ thần cục, tất có một hào là Cừu thần, Kỵ thần. Nói chung một hào có bệnh thì nhân đó mà đoán.
Hoặc bị Nhật xung gọi là Ấm động (tức tĩnh mà bị Nhật xung)
là Thực
(tức động lâm Không được Nhật thần xung), là Phá (tức Nguyệt kiến xung). Nhưng
xung phá này tất phải chờ lúc tương hợp
đến mà việc thành hung hay cát. Nếu một hào tĩnh
mà hai hào động, tất phải chờ trị nhật của hào tĩnh đó mới ứng việc.
Nếu một hào tĩnh mà lâm Không, hoặc động mà lâm Không hoặc
hoá mà gặp Không đợi lúc xuất Không mới ứng việc hung cát. Nếu Không
mà gặp hợp, tĩnh mà gặp hợp, động mà gặp hợp, tất đợi đến lúc xung
mới thành hung cát. Nếu tự hoá hợp
hoặc hợp với Nhật thần ; nếu tự hoá Mộ hoặc Mộ ở Nhật thần tất chờ đến lúc xung
(đây là nói ba hào đều động, hai hào không bệnh mà tự biến thành). Nếu tự hoá Tuyệt
ở Nhật thần tất chờ đến lúc sinh (cũng nói một hào có bệnh).
Ví dụ:
@ Ngày Đinh Tị tháng Mão, hai thôn
tranh nhau tát nước mà ẩu đả nhau, được quẻ Li biến Khôn.

Đoán rằng: Nội quái
là thôn ta, Ngoại quái là thôn người. Nội quái Hợi, Mão, Mùi hợp thành Mộc cục;
Ngoái quái Tị, Dậu, Sửu hợp thành Kim cục. Kim đến khắc Mộc, nhưng Kim suy nên
không thể khắc Mộc cượng. Lại Nhật thần hình Kim nên không đáng sợ. Huống gì quẻ
Lục xung biến Lục xung nên không đến nỗi
xảy ra sai trái, tức phải tan. Quả nghiệm.
Hợp thành hai cục nội
và ngoại tức phân ra ta và người, nhưng nếu bất động thì không thành cục thì phải
xem Thế và Ứng, Nay người đông đồng lòng mới hợp thành cục này nọ, mới thấy được
thần diệu của quẻ.
@ Ngày Đinh Dậu tháng Tị, xem việc đệ trình
xin bổ khuyết chức vụ, được quẻ Càn biến
Nhu.

Đoán rằng: Dần, Ngọ,Tuất
hợp thành tam hợp Quan cục, sinh Thế, thì chỗ khuyết tất được. Trong tam hợp
thiếu hào Dần phát động, nên chờ đến ngày Dần thì trình xin tất có thể được.
Sau quả nghiệm.
Đó là thiếu một hào
trong Tam hợp, tất chờ đến đấy mới dùng được.
@ Ngày
Bính Thìn tháng Dần xem xét tuyển, được quẻ Càn biến Tiểu Súc.
Đoán
rằng: Quẻ này hào Tuất ám động. Nếu hào Dần minh
động, sinh Ngọ hoà Quan tinh hoá Mùi thổ hợp, mà hợp thì đợi xung khai. Quẻ này
không phải thế, mà Ngọ hoả lại minh động, Tuất thổ ám động tạo thành tam hợp
Quan cục, chỉ thiếu có hào Dần động. Vì thế nhờ vào tháng Dần này để kết thành
tam hợp, nên được tuyển vào tháng này. Quả nghiệm.
Đấy là thiếu mà phải bổ sung.
@ Ngày Đinh Hợi tháng Thìn, xem xin
phục hồi chức được quẻ Tụy biến Cách.
|
|
Đoán rằng: Tị hoả là
Quan tinh trì Thế, lâm Dịch Mã[8]
ám động, xin phục chức được ngay. Nội quái Hợi, Mão, Mùi hợp thành Tài cục
Nguyên thần, sinh Thế. Nhưng vì Mùi thổ
lâm Không, tất phải đợi đến tháng Mùi mới được chấp thuận, được chỗ khuyết tốt. Sau quả nghiệm.
Tháng Mùi là tháng Thực Không.
@ Ngày Kỷ Mão tháng Sửu xem cha bị bệnh cấp cứu
được quẻ Càn biến Bí.

Đoán rằng: Thế hào
Tuất thổ Phụ Mẫu là Dụng thần, xem cận bệnh thì không nên hợp với Nhật thần ,
may nhờ Dần, Ngọ, Tuất hợp thành Hoả cục sinh Dụng, tượng không bị hại, Nhưng hào Tuất bị hợp phải chờ đến ngày mai
là Thìn xung, hợp gặp xung thì bệnh lành. Quả nghiệm.
@ Ngày Mậu Ngọ tháng Sửu xem thím bị bệnh, được
quẻ Li biến Minh Di.

Đoán
rằng: Mão mộc Phụ Mẫu là Dụng thần . Ngoại quái có Tị, Dậu, Sửu hợp thành Kim cục
khắc Thế, nhưng Sửu thổ lâm Không, nen nội trong tuần không có gì nguy hại, đén
ngày Ất Sửu cần đề phòng. Quả đến giờ Dậu ngày Ất Sửu thì chết. Ứng với ngày Sửu
là ngày xuất Tuần vậy.
@ Ngày Mậu
Thân tháng Mùi xem con ngày nào về, được quẻ Khuê biến Đỉnh.

Đoán
rằng: Mội quái có Tị, Dậu,Sửu hợp thành Kimcục làm Dụng thần. Sửu thổ bị Nguyệt
phá tất đợi sau tiết Lập Thu, ngày Giáp Tí con sẽ về nhà. Về sau quả nghiệm.
Ứng với sau Lập Thu Sửu thổ xuất Phá, ra khỏi
tháng Mùi. Quả ngày Giáp Tí trở về. Đấy
là Phá ứng với Hợp
vậy.
@
Ngày Bính Thân tháng Tị xem cha ngày nào
trở về, được quẻ Đại Súc biến Càn.
Đoán
rằng: Dần, Ngọ, Tuất hợp thành tam hợp
Phụ cục, chỉ có Dần bị Nhật xung lại Tuyệt ở ngày Thân. Ngày Kỷ Hợi tất sẽ trở về, Quả nghiệm.

Ngày
Kỷ Hợi đến vì Xung trung phùng Hợp, Tuyệt xứ phùng Sinh vây.
@ Ngày Mậu Thìn tháng Sửu xem phòng bị đàn hặc[9]
được quẻ Tỉnh biến Trung Phu (tuất hợi tk)

Ngưòi
xem này vì mới đổi coi việc quân, phòng bị đàn hặc. Ta bảo : Quẻ này hết sức kỳ lạ, Thế lâm Không bị Nhật xung
thành bất Không. Thế không bị khắc mà ám động, thì tuy không bị hặc tội nhưng
không tránh rời chức vụ. Người này nói: Không luận tội làm sao rời chức vụ được.
Ta nói: Thế ám động tất chủ phải động. Nội
quái hợp thành Kim cục sinh Ứng, chắc chắn chức vị này đã thuộc về người khác.
Về sau nhân nơi khác có người điền khuyết, quan trên mới đề nghị lưu viên chức ở
nơi ấy đến thay vị trí của người này, còn người này thì về Kinh bổ chức khác.
Đó là điều ít nghe thấy. Chỉ có thần
minh mới rõ.
@
Ngày Mậu Ngọ
tháng Dần, xem đất có chôn cất được không, ra quẻ Di biến Vô Vọng.

Đoán rằng: Thế hào Tuất thổ hưu tù vào múa Xuân, nhân hoá Ngọ hoả Tử Tôn
hồi đầu sinh, hợp với Nhật thần, Nguyệt kiến tạo thành Tam hợp. Thanh Long lâm
Tí thuỷ hoá Thân Trường Sinh thì nguồn nước rất xa, từ phía bên trái đến, nhưng
Tí hoá Nguyệt phá, bị Tuất thổ khắc , Nhật thần xung tán, nên nước này có lúc
khô phải
không ? Ngườ xem đáp: Chính vậy.
Ta bảo: Chẳng hại gì, trong quẻ Nhật Nguyệt cùng Thế tạo thành Tam hợp thì tự nhiên người chết an ổn
mà người sống vui vẻ. Chôn tất phát.
Năm Thìn chôn, năm Dậu
cháu đậu á khôi, năm tiếp cháu lại đỗ kỳ
thi hương.
@ Ngày Giáp Thìn tháng Tị xem ngày nào hết mưa được quẻ Đinh biến Khuê.
Nếu chấp vào cổ pháp thì Phụ phục tại hào Không vong
thì không có mưa, Tài Phúc động thì trời sáng tỏ. Nay không đoán như thế Tị, Dậu,
Sửu hợp thành Tài cục khắc Phụ. Phụ nếu bất Không tất chịu khắc thì không
mưa. Nay Phụ phục mà lâm Không, ấy là
tránh được khắc nên mưa không thể ngưng, phải chờ ngày Mão, Phụ xuất Không chịu
kắc thì mưa mới tạnh. Sau đến ngày Giáp Dần mưa càng to nhưng đến ngày Mão thì
tạnh hẳn. Ngày Dần tuy xuất Không nhưng không hiện trong quẻ nên không chịu khắc
thành mưa to.
@ Ngày Tân Mão tháng Dậu xem vợ bốc hụi có được
không, được quẻ Hằng biến Cổ.

Nếu
chấp vào cổ pháp thì Tài động Phúc sinhthì hụi này tất được. Nay thì không thế.
Tài ở Ứng chẳng phải là vợ mình, là vợ của bạn, của láng giềng. Dần, Ngọ, Tuất
hợp thành Hoả cục sinh Ứng khắc Thế. Tháng Mão hợp Ứng xung Thế tức xuất hiện
mà vô tình với ta, hợp cục hữu tình với người, tất vợ của bạn của láng giềng sẽ
được. Quả nghiệm như thế.
CÂU
HỎI THỨ NĂM
Hỏi: Hung của Phản ngâm có phân biệt nặng nhẹ phải
không ?
Đáp: Phàm gặp quẻ Phản ngâm mà Dụng Thần không biến
xung khắc việc tuy chỉ tráo trở cũng chủ sẽ thành. Sợ Dụng Thần bị xung khắc tất
việc rất hung.
Ví
dụ:
@
Ngày Nhâm Thân tháng Mão xem theo quan đi
trấn nhậm như thế nào, được quẻ Tỉ biến Tỉnh.
Đoán
rằng: Thế lâm Mão mộc hoá Dậu kim khắc xung, Mội quái có hào Phản ngâm. Điều
này không tốt, đừng đi theo là thượng sách.
Sau vì quan phủ được chọn thế vào chỗ khuyết ở gần dinh của giặc nên
không đi theo. Sau
khi quan đi rồi, lại nhân việc
khác mà đi đến đấy. Đến tháng bảy thành
bị giặc phá vỡ cùng quan phủ bị hại. Thế ở hào Quan cùng bị Dậu kim xung khắc,
không đi rồi lại đi vì quẻ này Phản ngâm.
@ Ngày Ất Hợi tháng Mão xem thăng chức được quẻ Lâm biến Trung Phu
Đoán rằng: Thế lâm
Mão mộc Nguyệt kiến là Quan tinh được Trường Sinh[10],
cùng Quan tinh ở vượng địa, tất đạt được chỗ thăng nhậm đó. Quả trong tháng được
báo ở Giang Tây được thăng trấn nhâm Sơn đông. Chưa được một năm trở lại trấn nhậm Giang Tây. Vì quẻ Phản ngâm nên
đi rồi lại trở về.
@ Ngày Đinh Tị tháng Mùi xem chị dâu bị bênh
hung cát thế nào, được quẻ Bác biến Khôn.

Đoán
rằng: Ngoại quái Cấn biến Khôn là quẻ Phản ngâm. Rõ ràng bệnh lành mà lại bệnh.
Nhưng không nên Dần mộc Dụng Thần hoá Dậu kim hồi đầu khắc, lại nhập Mộ vào
tháng Mùi, lại bị Nhật thần hình. Bệnh này nguy . Quả ứng nghiệm vào ngày Thân.
@
Ngày Mậu Thân tháng Tị xem đi bán hàng có
lợi không được quẻ Tiểu Súc biến Càn

Đoán
rằng: Quẻ Tiểu Súc biến quẻ Càn là Phản ngâm. Mừng được Thế và Tài Trường Sinh ở Nhật thần, chỉ nơi này,
haò Ứng là nơi đến, Ứng lâm Mùi hoá Ngọ hoả hồi đầu sinh tất lợi tức lần trước thì gấp bội. Sau người
này đi về ba lượt đều được lợi gấp bội.
@
Ngày Mậu Tí tháng Mão xem mồ mã được Tốn
biến Thăng.
Đoán rằng:
Thế là huyệt, lâm Nguyệt kiến, được ngày Tí sinh là cát địa. Nhưng không
nên hào biến Phản ngâm, Tử Tôn và Thế đều hoá khắc xung, không thể táng được.
Người xem nói: Đất mua giá cao đã lâu rồi, các thầy địa đều khen đẹp. Sau cứ
chôn, được bốn năm hai trai và một gái nối nhau mà chết.
CÂU
HỎI THỨ SÁU
Hỏi:
Hung của Phục ngâm có phân biết nặng nhẹ phải không?
Đáp:
Phục ngâm có tượng ưu uất, rên rĩ. Nội quái Phục ngâm thì bên trong bất lợi,
Ngoại quái Phục ngâm thì bên ngoài bất lợi. Phàm xem gặp quẻ này đều không được
vừa lòng. Động hay bất động đều u sầu buồn bã. Xem công danh thì khốn quẫn lâu
ngày, xem hoạn lộ thì trì trệ khó tiến, xem vốn liếng thì thiếu hao, xem nhà cửa
mồ mã thì muốn dời chẳng được , giữ thì không lợi. Xem bệnh lâu ngày thì khó
lành, hôn nhân không tựu, xem việc quan thì không xong, xuất hành bị cản trở, hỏi
hành nhân thì còn ở ngoài nhiều âu lo. Xem về thế này kia, nếu nội Phản ngâm
thì lòng ta không toại, ngoại quái thì lòng người không yên. Muốn hỏi về hung
cát phải xem xét sinh khắc của Dụng thần mới rõ, muốn biết hoạ phúc cần hiểu biết về Dụng thần, Kỵ thần và Phục ngâm.
@ Ngày Ất
Mão tháng Thân, xem quân sắp đến, cả nhà nên tránh nơi nào, được quẻ Vô Vọng biến
Đại Tráng.
Đoán
rằng: Nội quái Phục ngâm ưu uất chưa giải được, mừng được Thế hào Ngọ hoả là Tử
Tôn là chính mình, Ứng hào Tí thuỷ Phụ Mẫu là cha mẹ. Nguyệt kiến sinh Ứng, Nhật
thần sinh Thế, Thế Ứng an tĩnh nên cha mẹ và mình không có gì lo ngại, chỉ ngại
Huynh Đệ là Dần mộc Phục ngâm, tháng này lâm Nguyệt phá , anh em gặp nguy hiểm. Người xem hỏi: Cha mẹ ở nhà người thân tại
phía tâycó hại gì không ? Đáp: Phương tây thuộc Kim sinh phò Phụ Mẫu, không có
lo ngại chút nào cả. Còn ông nên tránh ở phía đông, đông thuộc Mộc sinh Hoả, vợ
và anh em theo ông chạy vị Tử Tôn trì Thế có thể khỏi lo. Người xem về dẫn gia quyến lánh nạn ở phía
đông. Về sau trở về, thăm ta và nói: Bình yên, chỉ có em trai quá nhớ cha mẹ đi
thăm, nửa đường bị hại.
@
Ngày Giáp Ngọ tháng Thân xem tại nơi trấn
nhậm có bình an không, được quẻ Cấu biến Hằng.

Đoán
rằng: Chỉ ngại Ngoại
quái Phục ngâm, ở nơi trấn nhậm tất có biến cố cho nên mới có quẻ rên rĩ
này. Người xem nói: Địa phương này có bộ
tộc Miêu đồng gây rối, có gì trở ngại không ?
Đáp: Quẻ Phục ngâm muốn về mà về không được. Sang năm thángThìn, phải bỏ
chức ở huyện Bình Tĩnh, tháng Ngọ được bổ
dụng lại. Ứng với
tháng Thìn bỏ chức vì hào Tuất
Phụ Mẫu Phục ngâm lại bị Nguyệt phá. Ư với tháng Ngọ được bổ dụng lại vì Nhật
thần là Quan tinh sinh Dụng thần, nên được thời mà vượng.
@ Ngày Ất
Mão tháng Dần, khách xa đến xem trong nhà có bình an không, được quẻ Vô Vọng biến
Càn.

Đoán
rằng: Nội quái là trong nhà bị Phục ngâm nên có việc đau buồn xảy ra. Người xem hỏi : Việc gì? Đáp: Ngày Mão tháng
Dần cùng đến khắc Tài hào là Thìn thổ, e là việc của thê thiếp, nô bộc.
Vào ngày trên, người đó lại xem thê
thiếp ở nhà có bình an không. Được quẻ Dự biến Bỉ.
Đoán
rằng: Tuất thổ Tài hào lại Phục ngâm, bị Nhật Nguyệt đều khắc, ông tất có nguy
lớn.
Hỏi: Ứng vào lúc nào
?
Đáp: Nhật thần hợp với
Tuất, nên trước mắt dù Dần Mão đều khắc nhưng chưa có hại. Qua tháng Thìn, Dụng thần Phục ngâm lại bị
Nguyệt xung, tất khó tránh được.
Quả tháng ba vợ chết.
CÂU HỎI THỨ BẢY
Hỏi: Hào gặp Tuần không, khi thì đoán rốt cuộc sẽ là Không thì ứng
vào lúc điền thực, khi thì đoán là Bất Không, rồi rốt cuộc là Không, sao vậy ?
Đáp:
Không có sinh mà bị khắc thì rốt cuộc là Không; được sinh mà không khắc thì đợi
thời mà dùng. Quẻ qua hung mừng được Dụng Thần lâm Không, quẻ quá tốt kỵ Dụng
Thần lâm Không.
Ví
dụ:
@
Ngày Mậu Tuất tháng Tị, xem cầu tài được
quẻ Ích.
Đoán rằng: Tài hào
Thìn thổ trì Thế vì lâm Không, được ngày Tuất xung, ấy là xung Không tức khởi.
Vào ngày này tất được.
Quả nghiệm. Ứng vào
ngày này, vì Tuất cũng là Tài tinh xung ta. Đấy là xung Không mà hữu dụng vậy.[11]
@ Ngày Giáp Tí tháng Hợi xem nô bộc ngày này
trở về, được quẻ Cách.

Đoán rằng: Tài Ngọ
hoả phục là Dụng Thần, bị Nhật Nguyệt khắc, hỏi hung hay cát thì hung. Nay hỏi ngày nào trở về, mà Thế lâm Không thì
chậm, Kỵ thần Tuần không thì trong tuần tất đến, ngày Kỷ Tị tất trở về. Sau quả
nghiệm.
Ứng với ngày Tị vì Tị hoả cũng là Tài, xung Phi thần mà hiển
lộ Phục. Hoàng Kim Sách có câu: “Không hạ Phục thần dị vu dẫn bạt” (Phục ở dưới
hào Không thì đễ kéo ra)[12].
@ Ngày
Đinh Mão tháng Thân xem yết kiến quí nhân cầu tài, được quẻ Đồng Nhân.

Đoán rằng: Hợi thuỷ Quan tinh trì Thế lâm
Tuần Không, xuất Tuần đến ngày Hợi tất gặp. Nguyệt kiến Tài hào sinh Thế, tiền
bạc lợi vừa ý. Quả nghiệm. Đậy là xuất Không thì hữu dụng.
@ Ngày
Quí Dậu tháng Tí, một người tự xem chuyện hôn nhân, được quẻ Hằng biến Đỉnh.

Đoán rằng: Thế Quan Ứng Tài gọi là “đắc địa”.
Nay Tuất thổ là Tài hào lâm Không hoá Tị hoả hồi đầu sinh, động mà được sinh
thì bất Không, ngày kế tiếp đến cầu
hôn tất được.
Quả
nhiên ngày sau giờ Tị hôn nhân được định[13].
@ Ngày Quí Sửu tháng Ngọ, xem vợ bị bệnh ngày
nào sẽ lành, được quẻ Tuỵ biến Tỉ.
Đoán rằng: Mão mộc
Tài hào là Dụng Thần, lâm Không có Hợi thuỷ là Nguyên thần sinh, ngày sau tất
lành.
Có người đứng bên hỏi:
Hào Mão bị Tuần Không, nên đoán là ngày Mão, sao lại đoán ngày Dần.
Ta nói: Ông không biết phép, đến ngày Giáp Dần thì
Mão mộc đã xuất Không . Dần mộc cũng là Dụng Thần.
Quả ứng vào ngày
Giáp Dần thì lành, tức trước Mão một ngày.[14]
@ Ngày
Canh Tuất tháng Dần, xem con bị bệnh ngày nào lành, được quẻ Cấu biến Vô Vọng.

Đoán rằng: Hợi thuỷ
Tử Tôn hoá Dần mộc Tuần không, cận bệnh gặp Không tất lành, hiềm Hợi thuỷ hoá Dần
mộc lâm Không tất không thể được Dậu kim sinh, phải đợi đến ngày Dần mới lành.
Quả nghiệm. Đấy là
hoá Không xuất Không vậy[15].
@ Ngày
Canh Tí tháng Mùi xem cầu tài, ngày nào tiền
đến tay. Được quẻ Tiểu Súc.

Đoán rằng: Tháng Mùi
trì Tài, trong tháng tất có, nay hỏi ngày nào đến tay. Trong quẻ Thìn thổ lâm
Không tất có nguyên nhân mới hiện ra như thế. Nên đoán ngày Thìn tất được tiền. Quả nghiệm.
Đấy là bỏ hào Mùi thổ
bất Không mà chọn hào Thìn thổ lâm Không vậy.
Đoán rằng: Dậu kim
Phụ Mẫu Tuần không, cận bệnh gặp Không tất lành. Nhật thần lại hợp Phụ Mẫu, cận
bệnh gặp hợp tất chết. Nhưng không nên
Thế trì Kỵ thần khắc. Bệnh này tất nguy.
Hỏi: Nguy vào ngày nào
?
Đáp: Ngọ hoả tự hoá
Không, trong tuần không thể bị khắc. Cận bệnh gặp Không thì không chết, nên
trong tuần không chết. Phong ngày Ất Dậu.
Quả đến ngày Ất Dậu
giờ Mão thì chết.
@
Ngày Nhâm Thìn tháng Dậu xem con bị
bệnh, được quẻ Đại Quá.

Đoán rằng: Ngọ hoả Tử
Tôn phục dưới hào Thế là Hợi. Nguyệt kiến sinh trợ Hợi thuỷ khắc Tử Tôn.
Trước mắt Dụng Thần lâm Không không chịu
khắc. Ngày Giáp Ngọ khó tránh.
Quả chết vào ngày Ngọ
giờ Ngọ. Đấy là “Phục vô đề bạt” (phục không được trợ giúp)
@ Ngày Ất Tị tháng Tí, một người đến
xem về em chết ở Thái Hồ, thây không biết có thể tìm được không. Được quẻ Phục
Đoán rằng: Phàm xem thây người lấy hào Quỷ
làm Dụng Thần, Nay Dần mộc là hào Quỷ lâm Không, mà Hợi thuỷ đang nắm lệnh[17] lại ám động hợp Quỷ. Rõ ràng thây ở trong
dòng nước lớn. Nhưng Dần mộc lâm Không , bị hợp nên đợi ngay xuất Tuần, gặp
xung tức ngày Canh Thân tất có thể tìm được.
Sau đến ngày Canh Thân không thấy. Mãi đến tháng Sửu, ngày Nhâm
Thân trong tuần Giáp Tí thây nổi lên mới tìm thấy. Thế nghĩa là sao ?
Dần
thuỷ xuất Tuần mà Hợi thuỷ quá vượng, phải đến lúc giao tiết tháng Sửu, Sửu thổ
có thể chế Thuỷ. Tuần Giáp Tí, Hợi thuỷ lâm Không, Thuỷ lâm Không thì như thuỷ
rút. Mộc ở trong Thuỷ không xung thì không khởi. Cho nên nghiệm vàp thuần Giáp
Tí ngày Nhâm Thân. Há chảng phải thần kỳ
sao. Học giả không thể không xét kỹ.
@ Ngày Giáp Ngọ tháng Sửu, một người xem cha
bị cận bệnh được quẻ Phụcuäng biến Phệ Hạp.
Đoán
rằng: Tị hỏa Phụ Mẫu là Dụng thần, lâm Không được Nhật thần củng. Cận bệnh gặp
Không tất không chết nhưng bất lợi vì quẻ Lục Hợp, Lục Hợp tất chết. Ta nghĩ Dụng
lâm Không và Lục Hợp có thể địch lại nhau. Chỉ không nên Thế tại Kỵ thần mà ám
động. Ngoại quái Tị, Dậu, Sửu hợp thành
Kim cục trợ Thủy khắc Dụng. Bệnh này tất hung.
Người
xem hỏi: Hung tại ngày nào ?
Đáp:
Ngày Kỷ Hợi khắc xung Tị hỏa nhưng còn ở
trong Tuần nên không hại gì, sợ nguy ở ngày Tân Hợi sau khi xuất Tuần. Quả đến
ngày này thì chết.
Đó
là ứng với xuất Tuần bị xung khắc.
@ Ngày Mậu Tuất tháng Mùi, vì đại hạn xem
ngày nào thì mưa, được quẻ Quán.
Đoán
rằng: Nguyệt kiến Mùi thổ Phụ Mẫu là Dụng thần được Nhật thần trợ lực, có mưa tất
lớn. Nhưng Tị hỏa Quan hào là Nguyên thần
lâm Không, yên tĩnh . Tĩnh tất phải đợi xung, Không phải đợi xuất Tuần. Đoán
ngày Tân Hợi có mưa to.
Quả
đến giờ Thân Dậu ngày này mưa to được 5 tấc.
@
Ngày Mậu Tuất tháng Mùi xem người mới
quen ngày nào đến, được quẻ Kiển.

Đoán
rằng: Phàm xem bạn chí thân lấy hào
Huynh Đệ làmDụng thần, xem người mới quen phải lấy hào Ứng làm Dụng thần. Nay
hào Ứng lâm Không được Nhật thần xung khởi, tất phải chờ đến ngày Giáp Thìn. Quả
nghiệm.
@ Ngày Giáp Thìn tháng Mùi xem ngày nào có
mưa to, được quẻ Tiểu Quá biến Cách.

Đoán
rằng: Nhật thân Thìn tổ là hào Phụ Mẫu làm Dụng thần, phát động được Nguyệt kiến
trợ giúp. Dụng thổ đang vượng khỏi phải nói, chắc chắn có mưa không nhỏ. Nhưng
không nên Dụng hóa Mão mộc lâm Không mà hồi đầu khắc. Tuy có Thân hóa Dậu kim
Tiến thần khắc Mộc cứu Thổ, mà Mão mộc
lâm Không, ấy là né tránh Kim khắc. Nên kết quả Phụ Thìn thổ có bệnh do Mão mộc. Đợi đến tuần Giáp Dần, ngày Ất Mão khi Mão mộc
xuất Không trị nhật, lộ ra nên khó tránh được khắc. Tuất thổ ám động trợ Kim khắc Mộc , nên Mão mộc
đã bị Kim khắc thì không thể hại Thìn thổ . Nên phải đợi đến tuần Giáp Dần ngày
Ất Mão mới có mưa.
Đến lúc đó lại không
mưa. Phải đến Lập thu, ngày Tân Dậu giờ Thân mới mưa. Vì sao lại ứng sau Lập thu ngày Dậu? Quẻ hiện
rõ Thân hóa Dậu tức tháng Thân ngày Dậu vậy. Mão mộc xuất Tuần trị nhật cuối
cùng bị khắc không tận, phải đến tháng Thân khắc, ngày Dậu xung mới có
mưa. Ta nhờ thế mà học tiến thêm một bước
nữa.
CÂU HỎI THỨ TÁM
Hỏi: Hào
Nguyệt phá, hoặc định Phá là vô dụng, rồi lại ứng váo Phá; hoặc gọi là bất Phá
rồi rốt cuộc là Phá mà vô dụng, vì sao vậy ?
Đáp:
Thần cơ hiện ở Phá, căn bản của họa phúc định ở nơi động. Hào Phá động mà được sinh không khắc thì có phép xuất
Phá điền thực, hợp Phá; hào Phá mà an tĩnh
bị khắc không sinh thì rốt cuộc là Phá.
Ví
dụ:
@ Ngày Đinh Mão tháng Tuất, xem việc kiện tụng
được quẻ Thái.
Đoán
rằng: Gặp quẻ Lục hợp, quan sự tất thẩm tra,
không nên hào Tuất xung Thế ttá bị Nguyệt phá, ngày Mão lại khắc Thế, tất
chắc chắn thua. Sau quả bị trách phạt.
Đó là ứng với Nhật khắc Nguyệt phá vậy.

@
Ngày Kỷ Sửu tháng Hợi, xem tương lai có quan chức không, được quẻ Đoài biến
Tụng.

Đoán rằng: Mùi thổ Phụ Mẫu trì Thế
hóa Tiấn thần, tuy lâm Không nhưng Nhật xung mà thành Thực[18]
chảng phải là Không. Tị hỏa Quan tinh động sinh Thế hóa thành dần Trường Sinh,
hiển nhiên làcóquan chức.
Người
xem hỏi: Ứng vào năm nào ?
Đáp:
Tất nhiên năm Tị, ăn lộc của vương gia.
Quả
vào nămTị được bổ vào nơi khuyết quan huyện.
Ứng vào năm Thực phá.
@ Ngày Mậu Tí tháng Thìn, xem cha mới đi gần
đây, ngày nào trở về, được quẻ Càn biến Quải.
Đoán rằng: Phụ Mẫu
trì Thế bị Nguyệt phá mà hóa Không, hóa Thoái. Nếu chấp vào tử pháp thì đoán
cha không thể về. Nhưng không những không chuyển đi nơi khác mà lại trở về. Ta
lấy Chu Tước lâm ở động hào trì Thế, ngày Mão có tin, ngày Mùi tất về.
Quả
vào ngày Mão có tin, ngày Mùi đến nhà.
Ứng
vào ngày Mão có tin vì ngày Phá mà gặp hợp.
Ngày Mùi về vì Phụ hóa Mùi thổ lâm Không, mà ngày Mùi là ngày xuất Không.
@ Ngày Quí Mão tháng Ngọ,xem công danh hậu vận,
được quẻ Cấn biến Quán.

Đoán
rằng : Dần mộc Quan tinh trì Thế,hào Thân động khắc, năm nay tháng bảy tất gặp
hung.
Người
xem hỏi: Xem vì việc gì ?
Đáp:
Ứng động khắc Thế tất là có người thù oán.
Lại
hỏi có trở ngại công danh không ?
Đáp:
Nếu không có Tí thủy động thì chắc chắn thôi chức. May có Tí động tiếp tục
tương sinh.vốn là tốt. Hiềm mà Tí Nguyệt Phá hóa Không., nên khó tránh giáng cấp
điều đi.
Quả
đến tháng bảy, người ấy bị đàn hặc kết thành tội lớn, qua tháng Tí kết thúc
giáng cấp điều đi. Đến tháng tư năm Tí
được giữ nguyên phẩm mà bổ dụng, làm quan ở hai nơi.
Ứng
với Tí thủy là Nguyên thần, ban đầu gặp Không Phá nên không có sức để sinh Thế,
nên lúc đó bị họa. Sau đến năm điền thực nên hữu dụng mà ứng nghiệm.
@ Ngày Giáp Ngọ tháng Dần, xem con bị bệnh
hung hay cát, được quẻ Cấn biến Mông.
Đoán
rằng: Thân kim Tử Tôn là Dụng thần,lâm Nguyệt Phá không nên Nhật thần khắc, động
hào khắc, lại hóa hồi đầu khắc . Chỉ có khắc mà không sinh mau về nhà, con của
ông tất chết. Người này chưa về nhà đã có người báo con chết vào giờ Thân. Đó là ứng vào giờ điền
thực, chịu khắc mà chết.
@ Ngày Canh Thân tháng Sửu xem phong thủy của
mồ mã, được quẻ Hàm.

Đoán rằng: Nhật thần
lâm Thanh Long trì Thế tức rồng đến từ bên trái. Long Hổ đều hữu khí, tất nhiên
vây bọc. Chỉ hiềm Mùi thổ ở Ứng lâm Nguyệt Phá mà Ứng là chiếu sơn. Trước Thế một
bậc là triều án mừng có Hợi thuỷ được ngày Thân sinh, tất có triều thuỷ. Nên lấy
thuỷ làm triều, hơn là lấy núi làm hướng. Gian hào là Minh đường vượng tướng, tất rộng rãi.
Người
xem bảo: Quả giống hoàn toàn, nhưng táng có tốt không.
Ta
đáp: Như tôi nói lấy Thuỷ tác triều, bỏ lấy núi làm hướng tất đại phát.
Về
sau quả y như lời đoán.
@ Ngày Tân
Mão tháng Thân xem mua nhà tốt hay không, được quẻ Cách biến Quải.

Đoán rằng: Nguyệt kiến sinh Thế hào, Dậu
kim ám động sinh Thế. Nhưng không nên Quan hoá Dần mộc Tử Tôn lâm Nguyệt phá, lại
bị Kim khắc, nên phòng hại cho con.
Người
kia dời vào nhà nay ở được nửa tháng, đứa con lên đậu mùa mà chết.
Sau
đó lại cầm quẻ này đến nói với ta: Đứa con quả nhiên chết. Nhà này về sau có thể
ở được không ?
Ta
đáp : Nên bói lại mới có thể quyết được.
CÂU
HỎI THỨ CHÍN
Phục
Thần
Hỏi: Dụng thần không xuất hiện xem Phục thần ở dưới hào nào,
thoát ra được hay không được luận như thế nào ?
Đáp: Phục thần thoát ra được có bốn cách:
- Nhật
Nguyệt sinh, Nhật Nguyệt trì
-
Phi thần sinh Phục thần, động hào sinh Phục thần.
-
Nhật Nguyệt, động hào xung khắc Phi thần.
-
Phi thần lâm Không Phá, hưu tù, Mộ Tuyệtở Nhật thần.
Với
bốn loại trên Phục thần đều hữu dụng.
Phục
thần không thoát ra được cũng có bốn loại:
-
Phục thần hưu tù, vô khí, Nhật Nguyệt khắc.
-
Phi thần vượng tướng, Nhật Nguyệt sinh trợ Phi thần khắc hại Phục thần.
-
Phục thần Mộ Tuyệt ở Nhật Nguyệt, ở hào Phi.
-
Phục thần hưu tù, Tuần không, Nguyệt phá.
Với
bốn loại trên Phục thần vô dụng, có cũng như không, rốt cuộc cũng chẳng thoát
ra được.
Phàm
Dụng thần vượng tướng nếu lâm Không, đến ngày xuất Không tất thoát ra được.
Vd:
@ Ngày Nhâm
Thìn tháng Mão, xem ngày nào nhận được văn thư, ra quẻ Bí.

Đoán
rằng: Ngọ hoả Phụ Mẫu là Dụng thần phục dưới hào nhị là Sửu thổ, lại lâm Không.
Phải đến ngày Giáp Ngọ xuất Không tất nhận được.
Quả
nghiệm. Đấy là ứng với ngày xuất Tuần.
@ Ngày Đinh
Tị tháng Thìn, xem nô bộc bỏ trốn, được quẻ Kiển.

Đoán
rằng: Xem nô bộc lấy hào Tài làm Dụng thần. Dụng thần là hào Mão mộc của quẻ Đoài
đến phcu tại hào nhị của quẻ này là Ngọ
hoả. Ngọ hoả là Phi thần, Mão mộc là Phục thần.
Nay Thân kim trì Thế khắc chế Mão
mộc, rốt cuộc không thể bỏ trốn. Nhưng vì Phục đi sinh Phi, gọi là tiết khí tức trộm của cải, tiêu hết ở
trong lò rèn, ngày Giáp Tí bắt được.
Quả
ngày Tí được tin đánh bạc trong nhà người thợ đúc, giờ Thân bắt được.
Ứng
với ngày Tí vì xung khắc Phi thần Ngọ hoả, sinh
khởi Phục thần Mão mộc.
Hoàng
Kim Sách có câu: “Phục vô đề bạt chung đồ nhĩ, Phi bất suy khai diệc uổng nhiên”
(Phục không nâng đỡ rồi vô ich, Phi chẳng xung khai cũng uổng công). Quẻ này ứng
nghiệm với câu trên.
@ Ngày Bính
Thìn tháng Dậu xem con bị bệnh được quẻ
Thăng
Đoán rằng: Ngọ hoả Tử Tôn phục dưới hào Thế Sửu thổ. Sửu thổ lâm Không nên Phục thần đẽ thoát. Đến ngày Ngọ tất
bệnh lành.
Quả ứng nghiệm.
@ Ngày Bính
Thìn tháng Mão xem cha bị bệnh được quẻ Phục
Đoán rằng: Tị hoả Phụ Mẫu phục ở hào
nhị Dần mộc. Phi sinh Phục mà Phục gặp Trường Sinh. Ngày hôm sau sẽ lành.
Quả ứng nghiệm.
@ Ngày Canh Thân Tháng Thìn, xem giá lá dâu lên
hay xuống, được quẻ Ký Tế

Đoán rằng: Ngọ hoả Tài
hào là Dụng thần, phục dưới hào Thế là Hợi thuỷ, Thế được Nhật thần sinh, mà Ngọ
hoả lại Tuyệt ở Hợi, chủ giá của lá rẻ, chẳng phải nghi ngờ gì nữa.
Người đứng bên hỏi:
Hôm nay giá là 3 đồng, không phải là rẻ, theo lời luận của tiên sinh thì ba đồng
là rẻ sao?
Ta đáp: Không phải, trước
mắt còn quá sớm, giá 3 đồng mọi người lo đắc, là giá qui định năm nay, nay hỏi
giá chung, tất phải đoán giá ở chợ lớn.
Người đứng bên hỏi: ở
chợ lớn ngày nào mắc, ngày nào rẻ ?
Đáp: Giao tuần Giáp
Tí , Hợi thuỷ lâm Không, chỉ ngày Tị, Ngọ giá cao, giao tuần Giáp Tuất, Hợi thuỷ
xuất Không, Ngọ hoả không thể thoát, tất giá xuống dần.
Quả nghiệm.
@ Ngày Mậu Thìn tháng Dần, xem bệnh có phải bị
quỷ thần gây hại không, được quẻ Tiểu Súc.
Đoán rằng: Phàm xemQuỷ Thần lấy hào Quan làm Dụng thần. Nay Quan Quỷ phục dưới hào Thìn mà hợp với
Phi thần, được Nhật thần hợp. Ta nghĩ Phục mà hợp là có tượng che giấu. Dậu kim
là thần chánh khí. Hào tam là phòng ốc, nên đoán trong phòng nhà ông có chứa tượng
thần gây quái.
Người xem hỏi : Tiên sao, quả có tấm ảnh Quán Âm cất nơi nhà bếp.
Sau đem ảnh đưa đến chùa, bệnh lành ngay.
Ngày Canh Thân tháng bảy cũng được
quẻ này, ta cũng đoán như trước. Người xem bảo: Có tương đồng Đạt Ma Tổ Sư ở
trong tráp. Khiến đem đến chùa, bệnh cũng lành.
[1]
Ví dụ
này không có gì lạ, vì Nguyệt kiến lại đi sinh
động hào là Nguyên thần của Huynh Đệ, mà Thế lại trì Huynh Đệ nên dễ đoán.
[2]
Dĩ nhiên phải là Mão để
xung Dụng Thần , chứ không thế nào xung khai được Nhật thần
[3]
Quẻ này cho thấy Nhật Nguyệt
quan trong hơn động hào rất nhiều, Dụng Thần bị Nhật khắc Nguyệt xung nên vô
phương cứu chửa.
[4]
Ngày xem có Thiên can
là Mậu, nên Câu Trần ở hào sơ, do đó
Thanh Long ở hào Ngũ, tức ở Thế.
[5]
Vì xem vào tháng Dần.
[6]
tức bệnh mới phát.
[7]
Quẻ này đúng lý phải đề
cập đến Thái Tuế mới chính xác, nhưng không ghi năm xem quẻ.
[8]
Ngày Đinh Hợi, Dich Mã
tại Tị.
[9]
tức quan lại bị hặc tội
[10] Mão mộc Trường Sinh tại Hợi
là Nhật thần
[11]
Quẻ này quan trong là
Tài thổ mà xem trong tháng Tị hoả nên rất vượng, mới xung Không thành ythực
được.
[12]
Quẻ này có lễ chủ ý của
người xem không hiểu nô bộc thế nào, vì thế hào Thế mới lâm Không, nhưng Thế
vượng, nên ngày Tị xung Không thì tất giải mối nghi của người xem mà thôi.
[13]
Quẻ này đến ngày Tuất
thì Tài hào đã xuất Không rồi.
[14]
Quẻ này nên lấy hào
động mà đoán mới phải, Hợi thuỷ Tử Tôn động sinh Thế, tức ứng vào ngày hợp là
Dần.
[15]
Quẻ này có nhiều yếu tố
để đoán con lành, Tử, Thế đều hoá Hợp, nhưng nên lấy đại thể mà đoán cận bệnh
mà quẻ biến Lục xung tất lành. Còn khi nào lành thì phải dùng hào hợp với Tử
Tôn động tức là ngày Dần.
[16]
tức bệnh mới phát
[17]
Xem tháng Tí, Thuỷ
vượng, nên Hợi nắm quyền.
[18]
Đây là “xung Không tất
Thực”


Nhận xét
Đăng nhận xét